Sunday, 14 July 2013

THUỞ HÀN VI CỦA 14 TỔNG THỐNG MỸ



THUỞ HÀN VI CỦA 14 TỔNG THỐNG MỸ
3274903-1373623784_500x0.jpg
Herbert Hoover – Kinh doanh giặt là và khai mỏ
Khi còn theo học tại Standford, Hoover tự mở dịch vụ giặt là dành cho sinh viên rồi sau đó làm thư ký trong một phòng đăng kiểm. Khi tốt nghiệp, tân sinh viên chuyên ngành địa chất dành 10 tiếng mỗi ngày để làm trong một mỏ vàng gần Nevada.
garfield-2-1373623784_500x0.jpg
James Garfield – Lái thuyền và thợ mộc
15 tuổi, Garfield đến Cleveland với hy vọng trở thành một thủy thủ trên biển. Ước mơ bất thành nên ông chọn nghề lái thuyền trên kênh đào, chuyên vận chuyển quặng đồng qua lại giữa Cleveland và Pittsburgh. Công việc có vẻ không hợp với James khi trong 16 tuần làm việc ngắn ngủi ông rớt khỏi tàu tới 14 lần. Khi theo học tại một ngôi trường ở Ohio, ông tự nuôi thân bằng nghề thợ mộc và trông nhà.
grant-1-1373623784_500x0.jpg
Ulysses S. Grant – Huấn luyện ngựa
Khi Grant không làm việc trong nông trại của cha mình, ông dành thời gian để cưỡi và huấn luyện ngựa. Tài nghệ của Grant trở nên nổi tiếng và nhiều nông dân ở các vùng khác xa xôi đã mang những con ngựa bất kham của mình đến cho ông thuần hóa.
ajohnson-0-1373623784_500x0.jpg
Andrew Johnson – Thợ may học việc
Bắt đầu từ khoảng 14 tuổi, Johnson và anh trai theo học nghề thợ may và chỉ sau 3 năm họ đã thành thạo. Andew khởi nghiệp tại Greeneville, nơi ông gặp vợ tương lai của mình và chính bà là người dạy ông học chữ.
2668892-1373623784_500x0.jpg
Abraham Lincoln – Công nhân đường ray và hoa tiêu
Lincoln có nhiệm vụ tách gỗ và dựng hàng rào cho đường ray tàu hỏa. Thu nhập từ công việc này giúp ích rất nhiều cho gia đình của ông. Năm 19 tuổi, Lincoln trở thành hoa tiêu tàu đáy bằng, dẫn tàu đi từ Mississippi đến New Orleans. Ông cũng làm nghề chạy phà và còn phát minh thiết bị giúp tàu vượt qua được các vùng cạn. Lincoln là Ttổng thống Mỹ duy nhất đến nay sở hữu bằng sáng chế.
fillmore-1-1373623785_500x0.jpg
Millard Fillmore – Học việc may khăn
Xuất thân từ một gia đình nghèo, Millard được học hành rất ít. Năm 14 tuổi, cha ông thu xếp đưa ông đi học nghề may khăn. Thay vì dùng tiền để mua kẹo như nhiều đứa trẻ khác, Fillmore đã mua một quyển từ điển rồi mang đến cửa hàng. Mỗi khi ông chủ không để ý, vị tổng thống tương lai lại giở từ điển ra đọc.
jackson-1373623832_500x0.png
Andrew Jackson – Học làm yên ngựa và giáo viên cấp I
Nóng lòng được ra chiến trận trong cuộc chiến giành độc lập Mỹ (1775 – 1783), Jackson gia nhập quân đội từ năm 13 tuổi. Nhưng chiến tranh đã biến ông thành mồ côi nên một năm sau đó, “cựu binh” 14 tuổi đã đến ở với một người họ hàng, rồi học nghề làm yên ngựa và duy trì được 6 tháng. Năm 16 tuổi, Jackson trở thành giáo viên tiểu học.
obama-0-1373623783_500x0.jpg
Barack Obama – Bán kem và làm bánh mỳ sandwich
Giữa những năm 70 của thế kỷ XX, chàng thanh niên Obama làm nghề bán kem tại cửa hàng Baskin-Robbins ở Honolulu. Đây là công việc đầu đời của đương kim tổng thống Mỹ. Vài năm sau đó, ông chuyển sang nghề bán hàng lưu niệm rồi phục vụ bánh mỳ sandwich trong tiệm ăn.
bush-oilfield-1373623783_500x0.jpg
George W. Bush – Công nhân dàn khoan dầu và bán quả bóng bàn
Mùa hè năm 1965, Bush trở thành công nhân một dàn khoan dầu ngoài biển gần Louisiana. Ông nói: “Đây là một công việc nặng nhọc và nóng bức. Tôi làm đủ để nhận ra đây không phải làm điều mình muốn trong cuộc đời”. Cựu tổng thống cũng chia sẻ, việc làm ưu thích nhất của ông là trưởng nhóm bán quả bóng bàn tại Sears.
bill-hillary-1373623783_500x0.jpg
Bill Clinton – Bán tạp phẩm và truyện tranh
Năm 13 tuổi, Bill Clinton có việc làm đầu tiên trong đời tại một cửa hàng bán tạp phẩm ở Arkansas. Cũng chính tại đây, ông đã thuyết phục chủ hàng cho phép bán thêm truyện tranh, sản phẩm giúp Bill kiếm được 100 USD.
ronald-reagan-as-lifeguard-1927-wikimedi
Ronald Reagan – Nhân viên rạp xiếc và vệ sĩ
Năm 1925, Reagan làm một vài việc lặt vặt trong rạp xiếc Ringling Brothers với tiền công 0,25 USD mỗi giờ. Một năm sau, ông chuyển sang làm nghề vệ sĩ, mỗi ngày làm 12 tiếng và không có ngày nghỉ. Trong thời gian này, ông đã cứu sống được 77 người. Khi vào Đại học Eureka, Ronald làm bánh hamburger và lau rửa bàn trong ký túc xá nữ.
geraldford-rangerbig-from-national-park-
Gerald Ford – Nhân viên bảo vệ tại công viên
Hè năm 1936 là quãng thời gian Ford đợi nhập học trường luật Yale. Ông cũng tranh thủ khoảng thời gian này để làm nhân viên bảo vệ làm thời vụ tại Công viên Quốc gia Yellowstone. Một trong những nhiệm vụ của ông là hộ tống những chiếc xe mang thức ăn cho gấu.
3134429-1373623783_500x0.jpg
Richard Nixon – Bán thịt gà và người hô trò “Bánh xe may mắn”
Trong giai đoạn 1928 – 1929, Richard đến thăm mẹ và anh trai mình tại Prescott, bang Arizona. Suốt quãng thời gian ở đây, Nixon làm nghề giết mổ và bán thịt gà. Nhưng với ông, công việc ưu thích nhất vẫn là người hô trò “Bánh xe may mắn” tại lễ hội Slippery Gulch.
johnson-6-1373623784_500x0.jpg
Lydon B. Johnson – Đánh giày và chăn cừu
Năm 9 tuổi, Johnson đã biết dành kỳ nghỉ hè của mình để đi đánh giày kiếm tiền. Khi lớn hơn, ông đã có lúc dành thời gian nghỉ để chăn dê và làm cả trên những cánh đồng bông của
SOURCE
TRE DEP ONLINE

Thursday, 30 May 2013

Thăm tàu chiến USS Iowa ở Cảng San Pedro – Los Angeles



Thăm tàu chiến USS Iowa ở Cảng San Pedro – Los Angeles
(VienDongDaily.Com - 28/05/2013)
Bài và hình: Khanh Vy

Tàu chiến USS Iowa (còn có biệt danh là "The Big Stick") là chiếc tàu dẫn đầu của đoàn thiết giáp hạm Iowa và là chiếc tàu chiến thứ tư của Hải Quân Hoa Kỳ được đặt tên nhằm vinh danh tiểu bang thứ 29 của Hoa Kỳ. Iowa là tàu chiến duy nhất của Hoa Kỳ được trang bị một bồn tắm, và là chiếc duy nhất trong loại của nó từng hoạt động tại Đại Tây Dương trong Thế Chiến II. Hạ thuỷ vào tháng 8 năm 1942 và sau đó tham gia Thế Chiến II. Khi hoạt động tại Đại Tây Dương, chiếc tàu này đã đưa đón Tổng thống Roosevelt tham dự Hội Nghị Tehran. USS Iowa ngưng hoạt động vào tháng 10 năm 1990. Sau đó tàu được đưa vào bảo tàng chiến tích, đậu tại cảng San Fedro ở Los Angeles, để mọi người trên thế giới có thể viếng thăm.



                                                      Một phần trên của tàu chiến Iowa



Phần lớn những nhân viên làm việc trên chiếc tàu chiến xưa này là những cựu quân nhân. Họ từng tham chiến cùng con tàu vào những năm chiến tranh ác liệt. Nhiều du khách cảm thấy thích thú khi được nhìn thấy những nhân chứng chiến tranh giờ đây vẫn còn có mặt trên con tàu để hướng dẫn du khách.
Trước khi lên con tàu này, du khách đều được kiểm tra cẩn thận. Ai muốn chụp ảnh lưu niệm với con tàu thì chụp còn ai không chụp ảnh thì lên thẳng cầu tàu để lên tàu. Điểm dừng chân đầu tiên là một hệ thống pháo hạng nặng với ba khẩu đại bác. Từ trên cao du khách có thể nhìn thấy bên dưới tàu có nhiều neo và dây xích thật to. Sau khi xem phần bên ngoài du khách lần lượt vào bên trong con tàu. Khu đầu tiên là buồng lái, vào sâu bên trong là phòng ngủ, phòng khách, phòng chỉ huy, phòng điều khiển, phòng ăn, quán bar, phòng chiếu phim, phòng tập thể dục…


                                            Tên lửa sử dụng trên tàu chiến ngày xưa


Tàu Iowa có trong tải 45.000 tấn, dài 861 ft., chạy với vận tốc hơn 64km/h và có thể chạy liên tục 23.960km, sức chứa 2.700 người, sau năm 1980 còn 1.800 người.
Vào năm 1944 Iowa được chuyển sang hạm đội Thái Bình Dương, và đã tham chiến tại Nhật Bản, khi đó tàu đã bắn phá các bãi biển tại Kwajalein và Eniwetok trước các cuộc tấn công đổ bộ của lực lượng Đồng Minh. Tàu hộ tống các tàu sân bay hoạt động tại quần đảo Marshall. Trong chiến tranh Triều Tiên, Iowa tham gia bắn phá dọc theo bờ biển Bắc Triều Tiên. Trước khi được cho dừng hoạt động tàu chuyển về Hạm Đội Dự Bị Đại Tây Dương. Nó được hoạt động trở lại vào năm 1984 như một phần của Kế Hoạch 600 tàu chiến Hải Quân, và hoạt động trong các hạm đội Đại Tây Dương và Thái Bình Dương để đối phó lại sự bành trướng của Hải Duân Xô Viết.


                                                                     Đài radar



Vào tháng 4 năm 1989, tháp súng số 2 trên chiếc Iowa phát nổ mà không xác định được nguyên nhân, làm thiệt mạng 47 thủy thủ. Iowa cuối cùng được cho ngừng hoạt động vào năm 1990. Nó được rút khỏi danh sách đăng bạ Hải Quân vào năm 1995. Nhưng nó lại được trở lại năm 1999 đến năm 2006 theo một đạo luật liên bang buộc phải giữ lại và duy trì hai thiết giáp hạm loại Iowa.

Dàn pháo chính của Iowa bao gồm chín khẩu Mark 7/50-caliber 406 mm (16-inch) có khả năng bắn đạn xuyên thép nặng 1.200 kg (2.700 lb), đạn bắn đi xa được khoảng 37 km (20 dặm). Pháo hạng hai gồm hai mươi khẩu pháo 5-inch (127 mm)/38-caliber bố trí trong các tháp súng đôi, có tầm bắn khoảng 22 km (12 hải lý). Iowa được trang bị một loạt các pháo phòng không Bofors 40 mm 56 cal. và Oerlikon 20 mm 70 cal. Tàu còn mang theo 3 máy bay trực thăng, 6 máy bay không người lái, hệ thống radar hiện đại quan sát cả trên không, trên mặt nước và dưới lòng biển…
Cuối tàu Iowa là một căn phòng rộng lớn bán đồ lưu niệm, trong đó có những quyển sách nói về chiến tranh Việt Nam.



Du khách trên tàu


Hệ thống đường dây điện trên tàu chiến



Du khách trên tàu chiến



Dây thừng thật to



Tên lửa



6 khẩu đại bác lớn



Sơ đồ hoạt động của đại bác



Dây xích thả neo của tàu





Phòng khách của chỉ huy trưởng

Bài và hình: Khanh Vy
source
Vien Dong Daily

Saturday, 19 January 2013

Adolf Hitler



Adolf Hitler

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Adolf Hitler
Hitler năm 1937
Hitler năm 1937
Nhiệm kỳ2 tháng 8, 1934 – 30 tháng 4, 1945
Tiền nhiệmPaul von Hindenburg
(Tổng thống)
Kế nhiệmKarl Dönitz
(Tổng thống)
Nhiệm kỳ30 tháng 1, 1933 – 30 tháng 4, 1945
Tiền nhiệmKurt von Schleicher
Kế nhiệmJoseph Goebbels
ĐảngĐảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (NSDAP, Nazi, Quốc xã)
Sinh20 tháng 41889
Braunau am InnÁo-Hung
Mất30 tháng 41945 (56 tuổi)
BerlinĐức
Nghề nghiệpchính trị giahọa sĩquân nhân
Chữ kýHitler signature.svg
Vợ hay chồngEva Braun
(thành hôn 29 tháng 4, 1945)

source
http://vi.wikipedia.org/wiki/Adolf_Hitler

Monday, 14 January 2013

So sánh phi cơ Trung-Nhật ở Senkaku/Điếu Ngư JANE | JANUARY 14, 2013 8:34 AM





So sánh phi cơ Trung-Nhật ở Senkaku/Điếu Ngư


So sánh phi cơ Trung-Nhật ở Senkaku/Điếu Ngư

Trong số các chiến đấu cơ được điều đến khu vực quần đảo tranh chấp, máy bay F-15 của Nhật được đánh giá nhanh và mạnh hơn, nhưng máy bay J-10 của Trung Quốc lại được trang bị vũ khí hiện đại hơn.

Truyền thông Nhật đưa tin, máy bay chiến đấu Trung Quốc J-10 nhiều lần bay vào vùng trời gần quần đảo Snekaku/Điếu Ngư mà Nhật Bản và Trung Quốc cùng tuyên bố chủ quyền, khiến Nhật Bản phải điều các chiến đấu cơ F-15 đến để bảo vệ quần đảo mà Nhật kiểm soát trên thực tế. Đồ họa: Fujitv
Một số diễn đàn về quân sự đưa máy bay Thành Đô J-10 (Chengdu J-10, ảnh trên) của Trung Quốc và Đại bàng F-15 (F-15 Eagle) của Nhật Bản ra so sánh về sức chiến đấu. Ảnh: Linskysplace
F-15J/DJ Mitsubishi Eagle là máy bay tiêm kích hai động cơ đánh chặn trong mọi thời tiết. F-15 được sản xuất bởi Tập đoàn Công nghiệp nặng Mitsubishi theo mẫu chiếc F-15 của Mỹ và phục vụ trong Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản. Ngoài mục đích để chiến đấu, F-15J còn đảm nhiệm vai trò đào tạo. F-15J Kai là một phiên bản hiện đại hóa của F-15J. Ảnh: Wikipedia
Chiến đấu cơ F-15 Eagle của Nhật mang được một phi công, chiều dài 19,43 m, sải cánh 13,05 m. Máy bay có tải trọng là 20,2 tấn, tốc độ tối đa 2.660 km/h ở tầm cao và 1.450 km/h ở tầm thấp. Máy bay được trang bị một khẩu pháo M61 Vulcan cỡ nòng 20 mm. Ảnh: Wikipedia
Các máy bay Chengdu J-10 là chiến đấu cơ đa chức năng được thiết kế và sản xuất bởi Tổng công ty Công nghiệp Máy bay Thành Đô của quân đội Trung Quốc. J-10 được biết đến ở phương Tây với biệt danh “con rồng mạnh mẽ”. J-10 là một máy bay chiến đấu đa chức năng có khả năng hoạt động trong mọi thời tiết. Ảnh:Sammyboy
Máy bay chiến đấu Thành Đô J-10 cũng chở một phi công, chiều dài 15,49 m, sải cánh 9,75 m, trọng lượng 13.000 kg. J-10 được trang bị pháo hai nòng cỡ 23 mm. Ảnh: Pardaphash
Tổng thể, F-15 được đánh giá kinh tế hơn, tốc độ nhanh hơn, kích cỡ to hơn, có sức chiến đấu mạnh hơn, nhưng J-10 được trang bị vũ khí tốt hơn và khả năng chiến thắng trong đối đầu trực tiếp tương ứng là 54-46%. Ảnh: Aviatia
Về phía Trung Quốc, nước này tuyên bố điều động hai chiến đấu cơ J-10 hôm 10/1, sau khi một máy bay Y-8 của nước này bị hai chiếc chiến đấu cơ F-15 của Nhật theo sát. Y-8 là máy bay vận tải tầm trung kích thước trung bình, dựa trên Antonov An-12, có chức năng vận chuyển hàng hóa quân sự và dân sự, với nhiều phiên bản sản xuất và xuất khẩu. Ảnh: Fighterplanes.yuku
Một máy bay vận tải khác là Y-12, trực thuộc Cục Hải dương Quốc gia Trung Quốc, cũng được cho là từng xuất hiện trên vùng trời Senkaku/Điếu Ngư trong những ngày qua. ẢNh: Fujitv
Truyền thông Nhật Bản ngày 11/1 cũng đưa tin trong số hơn 10 chiếc máy bay Trung Quốc đến gần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông, có cả “Phi Báo” Tây An JH-7. Đây là máy bay ném bom chiến đấu hàng đầu của Trung Quốc. Ảnh:Wikipedia
Cuộc “chiến đấu” và tranh cãi trên các kênh ngoại giao lẫn trên thực địa giữa Trung Quốc và Nhật Bản dự kiến sẽ còn chưa yên ắng với một Trung Quốc ngày càng phát triển về quân sự và khí tài và một chính quyền cứng rắn của tân thủ tướng Nhật Shinzo Abe. Ảnh: AFP
__._,_.___
source
Tre Dep Online

Saturday, 22 September 2012

Vì Sao Thế Giới Ả Rập Lại Đất Bằng Dậy Sóng?





  • Written by  Nguyễn Minh Tâm 
  • Friday, 21 September 2012 16:18
  • font size decrease font size increase font size 
  • Print 
  • Email
Vì Sao Thế Giới Ả Rập Lại Đất Bằng Dậy Sóng?
ĐỌC WASHINGTON POST

FOUAD AJAMI
NGUYỄN MINH TÂM chuyển ngữ

·        Giáo sư Fouad Ajami, một người rất am tường về tình hình lịch sử chính trị của Thế Giới Ả rập. Ông là tác giả của hai cuốn sách: “The Syrian Rebellion” và “Dream Palace of the Arabs: A Generation’s Odyssey.” Hiện ông là học giả của Viện Hoover Institute, thuộc trường Stanford University. Nhân vụ biến động đang xảy ra trong Khối Ả Rập Trung Đông, ông viết bài tham luận giải thích hiện tượng cuốn phim “The Innocence of Muslims” trên Youtube gây nên bạo động chống Mỹ trên khắp vùng Trung Đông hiện nay. Chúng tôi xin lược dịch dưới đây.


Đời sống văn minh đòi hỏi người ta phải sẵn sàng chấp nhận những tài liệu có thể làm tự ái bị tổn thương. Và những vụ bạo động xảy ra trong ít ngày gần đây trong vùng Trung Đông cho thấy thế giới Ả Rập, trung tâm của Đạo Hồi Giáo, thiếu thiện chí chấp nhận sự đùa cợt của văn minh tân tiến.
Trong những năm gần đây, chúng ta thấy có hai hiện tượng nổi bật là thế giới bên ngoài đã xâm nhập, phá bung hàng rào phong kín nhiều vùng đất theo Hồi Giáo, cùng lúc đó  nhiểu người Hồi Giáo bỏ nơi sinh quán để đi tìm cơ hội tốt hơn, và cuộc sống văn minh tân tiến ở thế giới Tây Phương. Nhưng nền văn minh Tây phương đôi khi lại tỏ ra  khinh bỉ đạo Hồi Giáo, làm cho đất bằng dậy sóng, và đưa đến những cuộc biểu tình phản đối chết người. Để hiểu được vì sao bạo động tiếp tục nổ ra ở nhiều nước trong vùng Trung Đông, và làm thế nào có thể ngăn cản những vụ baọ động này, chúng ta cần nhận thức đâu là những chất liệu đưa đến những việc đáng buồn vừa kể.

Xuất phát từ một lịch sử lâu dài bị sỉ nhục, người Ả rập chất chứa trong lòng sự uất ức, và nỗi đau không nói ra được, chỉ chờ dịp để bùng nổ. Cuộc sống nghèo khó của đa số dân Ả rập trên thế giới ngày nay đối nghịch hẳn với sự vĩ đại về lịch sử họ từng có thưở xa xưa. Trong bối cảnh của tất cả những nhân tố này, chúng ta hiểu được vì sao niềm tự hào của họ dễ bị tổn thương.
Trong thế giới Ả Rập. trẻ em được dậy dỗ rằng người dân Ả Rập được đấng thiêng liêng ưu đãi. Niềm tin đó lại được hệ thống truyền thông, các giáo sĩ xác định, và người dân thường cũng tin là đúng. Từ thế kỷ thứ Bảy, đạo Hồi Giáo được đem truyền giảng từ Bán Đảo Arabian đến những miền đất xa xôi, như Morocco ở Phi châu, và Indonesia ở Á châu. Trong quá trình bành trướng đó, họ thắng hai cựu Đế Quốc  Byzantine và Ba Tư, sau đó, Đạo Hồi vượt qua Eo Biển Gibraltar đến Iberia, và ở đó, Hồi giáo dựng lên cả một nền văn minh ngời sáng, thách đố sự cố chấp, khắt khe của văn minh Âu châu ở phía Bắc. Hai thành phố Cordoba và Granada được tô điểm lộng lẫy do bàn tay của người di cư Ả rập. Điạ danh Andalusia là nơi hội tụ của tất cả tinh túy văn minh Ả Rập, từ thơ văn, luật pháp đến triết học. Ở đây người ta bàn luận về những vấn đề lớn của thời đại lúc bấy giờ.
Nếu sự phát triển, bành trướng của Hồi Giáo vinh quang bao nhiêu, thì sự suy sụp của nó cũng xảy ra hết sức nhanh chóng,và sạch bách bấy nhiêu. Đó chính là khung cảnh của một thế giới được sử gia Bernard Lewis mô tả trong cuốn sách của ông xuất bản năm 2002: “What Went Wrong?” “Vì Sao Xảy Ra Cớ Sự Không Tốt Trong Khối Ả Rập”. Những gì tốt đẹp được thượng đế ban cho Đạo Hồi Giáo, bỗng dưng trở thành cát bụi ngoài sa mạc. Những lầu đài, cung điện dựng lên ở trung tâm Hồi giáo trong thành Baghdad ngày xưa bị người Mông Cổ phá tan tành hồi thế kỷ thứ 13. Những đội binh hùng mạnh bị tiêu diệt hết, chỉ còn lại những nhóm quân đội nhỏ hùng cứ tại vài nơi trong khối Ả Rập. Đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ phá đi mọi di sản văn thơ, triết lý của các nước Ả Rập vào thế kỷ thứ 16. Văn minh Ả rập hầu như bị xoá hẳn trên trái đất, có còn lại chút gì thì cũng thuộc về tài sản của nền văn minh khác.
Sự trổi dậy của văn minh Tây phương đi đôi với lực lượng quân sự hùng mạnh, và những thành tựu về học thuật, hành chính của Tây phương. Từ đó Tây phương coi thường người À Rập, lòng dũng cảm của người chiến sĩ Ả rập ngày xưa bây giờ bị xuyên tạc thành những hành vi thô bỉ dùng vũ lực đánh đập phụ nữ, và nạn đối xử phân biệt nam nữ làm chia rẽ xã hội Ả Rập.
Ngay chính người Ả Rập cũng công nhận nhược điểm của họ, mặc dù đôi lúc họ đổ thừa là do bàn tay ngoại lai gây nên. Giới trẻ Ả Rập ngày nay có thể tự hào về văn hoá xưa của họ, nhưng thực ra trong lòng họ cảm thấy xấu hổ khi nhìn thấy những gì đang xảy ra ở xã hội quanh họ. Họ biết rằng hơn 300 triệu dân Ả Rập bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế trì trệ, và văn hoá suy đồi. Họ cũng biết rằng  khi xét trên tiêu chuẩn chung chung như tự do về chính trị, qui chế của phụ nữ, phát triển kinh tế, hầu hết các nước Ả Rập đứng vào hàng thấp kém. Những câu chuyện riêng tư hàng ngày trên đường phố, những đối thoại trên blogs điện tử, và trên hệ thống truyền thông, họ bàn tán với nhau không hiểu vì sao họ cứ đắm chìm ở mức tụt hậu mãi như thế.
Thật là điều đáng buồn, đáng trách hết sức khi người ngoại cuộc lại dám liều lĩnh bước chân vào cái hố mìn chỉ chờ dịp nổ tung. Người Ả rập vốn sẵn có thành kiến cho rằng người Tây phương có ác cảm với người Ả Rập, và những phán xét của người Tây phương về người Ả Rập đa số đều thiên lệch và đầy ác ý.
Trong gần nửa thế kỷ vừa qua, người Ả Rập, cũng như người Hồi Giáo ở ngoài vùng đất Ả rập, đều mang tâm trạng cho rằng họ bị bao vây bởi một nền văn minh mà họ không hiểu, và rất ghét cái nền văn minh đó. Những người Hồi giáo bỏ xứ ra đi, họ bỏ lại sau lưng thủ đô Karachi, Cairo, hay Casablanca bốc cháy vì bạo động, vì biểu tình. Tuy nhiên, họ vẫn mang theo trong lòng ngọn lửa của đức tin tôn giáo. Tại những khu có người Hồi giáo bỏ xứ ra đi, rải rác khắp nơi trên thế giới, họ sống quây quần với nhau, và theo dõi tin tức quê nhà bằng phương tiện truyền thông hiện đại. Những “Dish Cities”, Thành phố gắn “Dĩa TV” mọc lên ở khắp nơi trên trời Tây Âu và Bắc Mỹ. Bạn có thể sống ở thủ đô Stockholm, và vẫn theo dõi tin tức quê nhà qua hệ thống đài truyền hình al-Jazeera.
Chúng tôi biết có một số vụ nổi tiếng trong đó chính vì  tính chất tân tiến của thời đại đã làm cho người ngoan đạo Hồi giáo nổi giận. Vụ đầu tiên xảy ra khoảng hơn hai thập niên trước đây cho một nhà văn Hồi Giáo sanh trưởng ở Ấn Độ, ông Salman Rushdie. Ông này viết một cuốn tiểu thuyết bài xích thánh thần, mang tựa đề là “The Satanic Verses”, Lời Nguyển Của Quỷ,  trong đó việc ông mô tả Đạo Hồi Giáo  làm cho người theo đạo này nổi giận. Cuộc biến động bắt đầu với việc đốt sách của ông ta tại Anh quốc, sau đó là những cuộc biểu tình rộng lớn ở Pakistan, và cuối cùng nó đưa lên đến tận hàng giáo sĩ cao cấp của nước Iran. Năm 1989, Ngài Giáo Chủ Ayatollah Ruhollah Khomeini ra một Pháp Lệnh (fatwa) kết án tử hình nhà văn Rushdie. (Ông này phải trốn tránh trong hơn ba năm). Những người xuống đường biểu tình không hẳn là những kẻ chỉ trích cuốn tiểu thuyết. Họ xuống đường biểu tình vì cuốn sách  đụng chạm đến Hồi giáo. Trong đó tác giả mô tả Đức Giáo Chủ Muhammad và những bà vợ của ông ta như những vật liệu, công cụ của nhà văn. Cuộc xung đột xảy ra thuần túy là thái độ không thoài mái của Hồi giáo trong bối cảnh một thế giới tân tiến.
Cánh cổng ngăn nước lụt đã bật mở. Những vụ xung đột sau đó xác định rõ hoàn cảnh nào sẽ xảy ra xung đột giữa văn hoá Hồi Giáo và văn hoá Tây Phương. Một bên là văn hoá Hồi Giáo bị đánh động vì mang mặc cảm vửa dũng mãnh, vừa dễ bị vùi dập vì hoàn cảnh chính trị phân ly rã rời. Bên kia là văn hoá Tây phương bênh vực và dung dưỡng quyền tự do ngôn luận, viết lách, diễn đạt tư tưởng. Năm 2004, một thanh niên Hoà Lan gốc người Morocan, ở lứa tuổi trên 20, tên  là Mohammed Bouyeri đã đâm chết nhà làm phim Theo van Gogh trên đường phố đông người ở Amsterdam chỉ vì ông van Gogh và một chính khách gốc Somali cùng nhau đứng ra làm cuốn phim ngắn mô tả hiện tượng đánh đập, hà hiếp phụ nữ trong văn hoá Hồi Giáo.
Một thời gian ngắn sau, rắc rối lại xảy ra cho nước Đan Mạch, ở Bắc Âu. Một nhật báo ở đây đăng những bức tranh hí hoạ diễu cợt về Đấng Tiên Tri Muhammad. Bức tranh biếm hoạ đó vẽ ông giáo chủ mang cái khăn quấn trên đầu giống như qủa bom. Một tấm hình khác vẽ ông có dáng dấp của một tay sát thủ, chuyên đi ám sát người khác. Chủ bút phụ trách về văn hoá của nhật báo này cho rằng những bức hí hoạ đăng trên báo của ông chỉ có mục đích kêu gọi sự chú ý của mọi người đến vấn đề giới hạn quyền tự do văn hoá ở Âu châu. Có lẽ lối suy luận của ông này còn ấu trĩ, non nớt. Dầu gì đi nữa những nhà hoạt động trong khối Hồi Giáo đâu thèm để ý đến vấn đề tự do văn hoá, hay những tài liệu vớ vẩn như vậy. Chính phủ các nước Hồi Giáo chỉ nhắm một con đường duy nhất là sẵn sàng bảo vệ, bênh vực Hồi Giáo. Ông đại sứ Ai cập ở Đan Mạch ủng hộ việc đổ dầu vào lửa, thổi bùng sự tức giận của phe Hồi Giáo bằng những cuộc biểu tình phản đối, do một giáo sĩ người Palestine, sinh sống ở Đan Mạch, và một thanh niên người Lebanese đứng ra thực hiện. Trong vụ này, nước Syria là nước lợi dụng thời cơ làm to chuyện nhiều nhất. Chế độ cầm quyền ở Syria đòi các giáo sĩ đạo Hồi phải lên tiếng phản đối chính phủ Đan Mạch. Toà đại sứ Đan Mạch ở thủ đô Damascus và Beirut bị đánh phá tan hoang. Dân chúng được kêu gọi tẩy chay không dùng hàng hoá của Đan Mạch. Nước Đan Mạch nằm ở vị trí  ngoài cùng của Âu châu có người di dân Ả Rập đến sinh sống. Từ nay mảnh đất tương đối thanh bình, cô tịch đó bị khuấy động, chọc thủng.
Trận bão tố mới bùng lên trong tuần trước tại ngay cổng của các tiền đồn ngoại giao của Mỹ ở nhiều nước trong khối Ả rập là một trong những mắt xích của  dòng lịch sử. Như thường xảy ra từ bấy lâu nay, nó rất dễ bị kích động, nổ to thành chuyện lớn Nguyên nhân gây ra vụ chọc tức này là một đoạn phim dài 14 phút, phát tán trênYou Tube hồi tháng Bảy. Đoạn phim này qủa thực, thô lỗ, mang tính chất xúc phạm. Nó được tung lên với ý nghĩa chỉ là một đoạn phim ngắn giới thiệu cho cuốn phim “The Innocence of Muslims” “Sự Ngây Thơ Vô Tội Của Người Hồi Giáo.” dài hơn, sẽ được ra mắt sau này. Đoạn phim có những nhân vật thuộc loại hạ lưu, bình dân, và nói những câu ngớ ngẩn, nực cười. Lẽ ra tính chất thô sơ, kịch cỡm của đoạn phim sẽ làm cho người xem phát chán, quên ngay nó đi. Cuốn phim chẳng có giá trị gì về mặt nghệ thuật cả.
Rất khó truy nguyên ra ai là kẻ đã làm cuốn phim này. Công ty Sam Bacile tự nhận là tác giả của cuốn phim. Họ cho biết kẻ làm cuốn phim là một người Mỹ gốc Do Thái, và được 100 doanh nhân Do Thái bỏ tiền ra giúp. Chết chưa! Lại dính đến Do Thái nữa. Thế là đủ làm cho người Hồi Giáo giận phát điên lên được. (Thực ra, cho đến bây giờ vẫn không tìm ra hồ sơ của công ty Bacile, và nguồn gốc của cuốn phim video này vẫn còn mờ mịt, không chính xác.).
Việc đám thanh niên trẻ tụ tập xuống đường phản đối ở những thành phố sôi sục không khí đấu tranh trong thế giới Hồi Giáo là chuyện quá dễ dàng. Toà đại sứ và lãnh sự Mỹ trở thành mục tiêu đánh phá, để giải toả sự tức giận. Nhưng chính sự việc bên trong những tiền đồn ngoại giao giúp người ta biết được lòng tin tưởng giả dối được các nhà cai trị nhào nặn như thế nào. Cũng chính tại những tiền đồn ngoại giao này, người ta cấp chiếu khán, và một cách để người  Ả Rập tìm đường đi sang thế giới Tây Phương. Sau những vụ đập phá, xuống đường xảy ra, đám thanh niên trẻ đến Toà Đại Sứ Mỹ tuần này  nhìn thấy một sự pha trộn nghịch lý: vừa muốn đi Mỹ vì sức mạnh của Mỹ, vừa không muốn đi Mỹ nữa. Vụ tấn công toà lãnh sự Mỹ ở Benghazi, nước Lybia có vẻ như là được chuẩn bị từ trước, và không liên quan gì đến cuốn phim trênYouTube
Cái tâm trạng vừa yêu vừa ghét đối với đặc điểm văn minh của thời đại làm dầy vò tâm tư người Hồi giáo không ít, và sẽ còn tiếp tục dằng co. Sự thẻm muốn sang Tây phưong sinh sống của thế hệ trẻ tạo nên sự cách biệt giữa hai thế hệ già và trẻ. Cả đàn ông, lẫn đàn bà đều nói họ tiếp tục giữ đạo, song đồng thời cũng muốn tháo bỏ bớt những hạn chế của đạo giáo. Những điều được văn hoá Tây phương tôn trọng như quyền tự do diễn đạt tư tưởng, bảo vệ và cho phép những kẻ thấp hèn được có quyền ngang bằng với người khác, đều là những lý tưởng được văn hoá Tây phương trân trọng, tôn vinh. Bây giờ, người Hồi giáo có dịp dùng quyền tự do mới tìm thấy của mình để đập lại cái họ gọi là nghệ thuật làm tổn thương tự ái của người khác.
Những nghịch lý về văn hoá vừa kể không áp dụng với người ở ngoài khối Ả rập. Tổng thống George W. Bush tin rằng sự kiện nước Mỹ gần gũi quá với các chế độ độc tài Ả rập khiến sinh ra lòng hận thù của nhóm người tự xưng là Jihadist. Họ muốn giương cao ngọn cờ thánh chiến chống Mỹ, và Tây phương. Việc người Mỹ tung quân vào Iraq cũng nhằm mục đích thực hiện sự cải cách ở quốc gia này, và những nước Ả Rập khác thấy đó mà noi gương. Nhưng người Ả Rập từ chối chủ nghĩa can thiệp của Mỹ, và bác bỏ thẳng thừng kế hoạch tái lập tự do của ông Bush. Họ nói đó là chiêu bài che dấu cho một cuộc chiến tranh xâm lược, mất lòng dân.
Tổng thống Obama chọn một phương thức khác trong sách lược ngoại giao với khối Ả Rập. Ông tin chắc rằng tiểu sử cá nhân của ông, gồm một số năm sống ở Indonesia, một nước Hồi Giáo, cũng như những cảm tình riêng ông dành cho những  mảnh đất theo Hồi Giáo, sẽ giúp ông hàn gắn mối quan hệ của Mỹ với thế giới Ả rập. Nhưng ông bị rơi vào thế kẹt, vừa thoả hiệp với những nhà cai trị đương thời, trong lúc phải đưa ra những lời hứa to lớn đối với người dân thường. Cuộc nổi dậy của lực lượng đối lập ở Iran vào muà hè năm 2009 cho thấy chính sách của ông Obama có nhiều sai phạm. Kế đến những cuộc nổi dậy Mùa Xuân, hay còn gọi là Arab Spring cũng phá hỏng chính sách ngoại giao của Mỹ. Từ đó đến nay, chính quyền của ông Obama vẫn chưa thể quyết định xem họ có nên duy trì nguyên trạng, hay sẽ ủng hộ giới trẻ lật đổ giới lãnh đạo già nua.
Lẽ dĩ nhiên, tự do về văn hoá không bao giờ mang tính chất tuyệt đối, ngay cả các truyền thống lâu đời của Tây phương cũng vậy. Từ thời văn minh thượng cổ ở Hy lạp, Athens, cho đến nay, bao giờ cũng có sự xung đột, tranh giành giữa tự do và trật tự. Trong thế giới Hồi Giáo, sự dằng co giữa trật tự và tự do lại càng gay gắt, dữ dội hơn và sẽ còn kéo dài khá lâu.  Mấy vụ đốt lá cờ, hay đánh phá toà đại sứ mới chỉ là chuyện khởi đầu, sau này sẽ còn nhiều va chạm khốc liệt hơn nữa.- G.S Fouad Ajami / Washington Post ngày 14/9/2012-Nguyễn Minh Tâm dịch


SOURCE
VIET TRIBUNE ONLINE