Tuesday, 29 September 2009

Trung Quốc 'bao giờ cũng đúng'?



Anthony Wong trong vai Hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh, người đánh Việt Nam năm 1406 với chiêu bài Phù Trần diệt Hồ

Các hoàng đế Trung Hoa luôn coi mình là trung tâm của thế giới

Ai cũng biết Trung Quốc là một trong mấy nước có nền văn minh sớm nhất loài người. Hơn bốn, năm ngàn năm nay, khác với một vài nền văn minh cùng thời, tuy có lúc lên lúc xuống nhưng nền văn minh Trung Quốc chưa bao giờ tàn lụi.

Trung Quốc là “nước ở giữa”, ở đó có “con trời” (Thiên tử) cai trị muôn dân. Các nước bốn xung quanh theo thứ tự được phân chia thành đông Di, tây Địch, bắc Nhung, nam Man.

Mấy tỉnh miền nam Trung Quốc ngày nay và Việt Nam được “vinh dự” thuộc hàng ngũ “nam Man” - là phiên thuộc, là chư hầu của Thiên tử. Xin lưu ý là 3 trong 4 chữ Hán: Di, Địch, Nhung, Man nói trên, có tới 3 chữ có bộ thú chỉ thú vật ở bên cạnh.

Với thuyết Chính danh của Người quân tử, con cháu cụ Khổng từ mấy ngàn năm qua và cho đến tận bây giờ, lúc nào cũng tự coi mình là người duy nhất đúng trong mọi chuyện bang giao.

Đồng hóa và bành trướng

Không biết tên gọi của bao nhiêu nước đã biến mất trên bản đồ Trung Quốc để lãnh thổ nước này từ chỗ chỉ có mấy vùng đất không lớn lắm ở một phần lưu vực thuộc sông Hoàng Hà nay đã mênh mông rộng tới 9,6 triệu km2?

Không biết bao nhiêu dân tộc đã bị đồng hoá, kể cả dân tộc đã từng vào thống trị Trung nguyên xây dựng nên triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc mà nay chỉ còn chưa tới một trăm người nói và viết thành thạo tiếng mẹ đẻ?

Tất cả quá trình bành trướng lãnh thổ, đồng hóa dân tộc bằng thủ đoạn tàn bạo hay kế độc mưu sâu đều được che đậy, mỹ hoá bằng những câu chữ tuyệt đẹp: “mở mang bờ cõi", "hoà hợp dân tộc"…

Đó là chuyện xa xưa. Chuyện bây giờ thì sao?

Mặc dù đất rộng như vậy, người ta vẫn đang kêu rên là một trong mấy nước bị mất nhiều lãnh thổ nhất thế giới, phía nào cũng mất đất thậm chí còn “mất cả phần đất thuộc nguyên một nước bây giờ”.

Lạng Sơn

Cuộc chiến Biên giới 1979 cũng là "tại Việt Nam"?

Đã có tới hơn 2 triệu km2 lãnh hải mà Trung Quốc vẫn nói còn mất khoảng 1,2 triệu km2 biển nữa (trong đó có khoảng 800.000km2 tại Biển Đông).

Chỉ trong vòng 17 năm, họ đã gây ra ba cuộc chiến tranh biên giới (năm 1962 với Ấn Độ; 1969 với Liên Xô và 1979 với Việt Nam).

Lần nào họ cũng chủ động đánh trước nhưng lại kêu la rằng “mình là người bị hại”.

Người Việt Nam không thể nào quên được cuộc Chiến tranh Biên giới năm 1979, khi họ tung 60 vạn quân chủ lực, mở cuộc tấn công trên suốt sáu tỉnh biên giới, giết hại dã man người Việt, phá hoại nặng nề cơ sở vật chất của nhân dân Việt Nam mà lại rêu rao là “đánh trả tự vệ”, là để “dạy cho Việt Nam bài học”.

Chỉ có những kẻ không còn lương tri hay những người đầu óc có vấn đề mới có thể nghe lọt tai những luận điệu đó.

Lại còn chuyện này nữa: ai nâng đỡ, ai khuyến khích, ai cung cấp tiền của và phưong tiện để Khmer Đỏ gây ra nạn diệt chủng tại Campuchia?

Thế mà thoắt một cái họ đã biến mình thành “cứu tinh”, thành người “bạn tốt” của đất nước đau thương ấy.

Lùi thời gian lại một chút để thấy thêm vấn đề.

Những bất đồng, xung đột Trung-Xô trong những năm 60 của thế kỷ trước, Liên Xô rõ ràng là có trách nhiệm, nhưng chẳng lẽ người Trung Hoa lại không có chút xíu sai lầm?

Bất đồng rồi đi đến tan vỡ liên minh giữa nước được Trung Quốc coi là đồng minh tin cậy duy nhất của mình trong thời gian Cách mạng Văn hoá được qui cho là tội của lãnh tụ Albania lúc đó là Enver Hoxha.

Ai cũng biết chỉ mình không chịu nhận

Còn nhớ trong một lần gặp một nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế một nước phương Tây, trong câu chuyện, ông này không biết là hữu ý hay vô tình lặp lại: “Việt Nam xua đuổi người Hoa”.

Dù là chỗ quen biết, tôi không thể lặng im liền hỏi lại: "Ông bạn có biết chuyện người Hoa ở Indonesia năm 1956 không?"

Tuy chưa thật triệt để, nhưng có thể nói rằng người Mỹ, người Nga, những nước lớn, mạnh nếu không muốn nói là hơn Trung Quốc thì cũng không hề thua kém, cũng đã dám nhìn vào sự thực, thừa nhận một phần sai lầm trong nhiều chính sách đối ngoại của mình.

"Kịch bản vụ này đã được nhà cầm quyền Trung Quốc bê nguyên xi sang Việt Nam: dựng chuyện nhà đương cục địa phương xua đuổi người Hoa, Trung Quốc lên tiếng phản đối, cho tầu thuỷ sang đón “nạn kiều” v.v.. Bạn không tin xin đọc lại tư liệu cũ."

"Không có việc Việt Nam xua đuổi người Hoa."

Còn chuyện gần đây hơn.

Chính Trung Quốc là người đề xuất chủ trương: “Chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác, cùng hưởng lợi” tại Biển Đông, thế nhưng từ tháng 3 năm nay, họ đã cải biên tầu chiến thành tàu đánh cá để làm nhiệm vụ “tuần tra tại Biển Đông, có quyền kiểm tra, bắt giữ các tầu nước ngoài vi phạm luật, lệnh cấm của Trung Quốc”…

Một số tàu cá Việt Nam và mấy nước trong Asean đã bị bắt giữ, bị đâm chìm. Xin hỏi trên thế giới này có ai nuốt lời như vậy không? Có ai hành động ngang ngược như vậy không?

Gần đây đang rộ lên chuyện biên giới Trung Ấn căng thẳng, chuyện biên giới Trung-Myanmar, chuyện Trung Quốc bắt người thuộc công ty khoáng sản Australia vì phạm tội gián điệp, chuyện Mỹ tăng thuế lốp ô tô nhập khẩu từ Trung Quốc lên 35% vì bán phá giá.

Trước các sự kiện đó đều thấy Trung Quốc nói là do “người khác không thiện ý cố tình gây ra”, là “lỗi của đối phương”, là “ người ta làm ăn không đúng luật”...

Lòng căm thù, oán hận bọn phát xít Đức, Nhật của nhân loại rất sâu sắc nhưng sự thành khẩn thừa nhận tội ác của dân tộc mình đối với các dân tộc bị hại, nhất là với dân tộc Do Thái của những người cầm quyền các thế hệ tại Đức và Nhật, nhất là Đức, sau Thế chiến 2, đã khiến nhiều người dân trong các nước bị hại lượng thứ.

Tuy chưa thật triệt để, nhưng có thể nói rằng người Mỹ, người Nga, những nước lớn, mạnh nếu không muốn nói là hơn Trung Quốc thì cũng không hề thua kém, cũng đã dám nhìn vào sự thực, thừa nhận một phần sai lầm trong nhiều chính sách đối ngoại của mình.

Thế người Trung Quốc thì sao?

Tôi đã đọc, đã nghe, đã thấy, đã biết người Trung Quốc đã, đang và chắc chắn là sẽ còn nhận sai và sửa chữa nhiều sai lầm về đối nội.

Thiên An Môn

Trung Quốc đã sửa sai nhiều chính sách đối nội nhưng hình ông Mao vẫn được tôn thờ tại Thiên An Môn

Những sai lầm “trời không dung, đất không tha” trong những năm tháng Đại nhảy vọt, Cách mạng Văn hóa… đã được phơi bày rộng rãi và được sửa chữa khá triệt để.

Những vấn đề tồn tại như sự kiện Thiên An Môn, xử lý Triệu Tử Dương v.v.. chắc chắn không thể bị bỏ qua.

Thế nhưng, đối xử với những hành vi đối ngoại thì sao?

Cho đến nay có thể khẳng định là: chưa bao giờ ngưòi Trung Quốc nhận sai về phần mình cả.

Có thể tự tin mà nói trước rằng: giả dụ thời gian tới quan hệ Trung, Triều đổ vỡ, chắc chắn chúng ta sẽ được nghe từ Bắc Kinh những câu như: đó là sai lầm của cha con, cháu ông Kim, đó là lỗi của Bình Nhưỡng…

Nói như thế không bao giờ có ý phủ nhận những hành động chính nghĩa của nhân dân Trung Quốc khi hết lòng Chống Mỹ viện Triều và nhiệt tình giúp đỡ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Tuy nhiên, trước nhiều việc làm sai trái trong đối ngoại của họ mà ai cũng thấy, nhà cầm quyền các thế hệ Trung Quốc bao giờ cũng vẫn cho mình là đúng.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một nhà ngoại giao kỳ cựu, từng giữ chức Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu. Bài gửi từ Hà Nội cho BBC Tiếng Việt trong loạt bài đánh dấu 60 năm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1/10 năm nay. Ý kiến đóng góp xin gửi về vietnamese@bbc.co.uk

*****************************

source

BBC Vietnamese

Saturday, 26 September 2009

"Cuộc hôn nhân không tình yêu" Miến-Trung



Giới tướng lĩnh Miến có lẽ không bao giờ hết oán hận sự hậu thuẫn quân sự mà Trung Quốc giành cho phe cộng sản Miến Điện.

Miến Điện là quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa kể từ ngày Quốc Khánh Trung Quốc 1/10/1949.

Miến Điện đã giành độc lập từ Anh một năm trước đó, nhưng rồi lại rơi vào cuộc loạn lạc giao tranh giữa phe cộng sản và những phiến quân sắc tộc thiểu số.

Những người cộng sản Miến Điện nhận được sự cảm thông từ Đảng Cộng Sản Trung Quốc và cả những hỗ trợ về tinh thần lẫn vật chất từ những người đồng chí có chung ý thức hệ.

Chính quyền Miến Điện đã nhanh chóng công nhận tân Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vì lý do riêng của mình.

Theo Thakhin Chan Tun, một chính trị gia kỳ cựu và từng là đại sứ Miến Điện tại Trung Quốc hồi thập niên 1970: "Rõ ràng là chính phủ muốn Trung Quốc cân nhắc lại sự ủng hộ mà họ giành cho những người cộng sản Miến Điện và muốn phía Trung Quốc không công khai giúp đỡ những người cộng sản."

Thế nhưng giới chức Trung Quốc đã vỗ về những người hàng xóm rằng quan hệ thân thiết giữa những người cộng sản chỉ đơn thuần là giữa hai đảng, và họ muốn quan hệ giữa hai chính phủ được phát triển tốt đẹp.

Phía Miến không mấy hài lòng, nhưng rồi họ bị những khoản cho vay không tính lãi hào phóng của Trung Quốc làm cho tắt tiếng.

Miến Điện cũng phải đối diện với những hậu quả từ cuộc soán vị ở Trung Quốc, khi phe cộng sản đánh bại lính Quốc Dân Đảng, đẩy quân Tưởng Giới Thạch vào khu vực miến đông bắc Miến Điện và xâm chiếm một số thị trấn. Hàng ngàn lính Miến đã hy sinh thân mình để đẩy lui quân Tàu trắng tại các chiến địa kéo dài nhiều năm sau đó.

"Mượn gió bẻ măng"

Năm 1967, thêm một ảnh hưởng nữa từ cuộc Cách Mạng Văn Hóa Trung Quốc lan sang Miến Điện.

Sinh viên người Hoa tại Rangoon tới các trường học, ngực đeo huy hiệu Mao Trạch Đông tay cầm Mao tuyển lớn tiếng thách thức giáo viên và giới chức. Từ đó đã nổ ra các cuộc đụng độ giữa người Hoa và người Miến.

Một số người Hoa bị giết chết trong các cuộc đụng độ, nhiều cơ sở nhà cửa của người Hoa bị phá hủy.

Chính quyền Trung Quốc phản đối Miến Điện và thúc giục họ phải bảo hộ các gia đình người Hoa sống tại đây. Chính quyền Miến ra tay đối với một số thủ phạm gây các vụ đụng độ, nhưng phía Trung Quốc nay đã có cớ để giúp phe cộng sản chống lại chính quyền trung ương Miến Điện.

Trước đó, sự ủng hộ chủ yếu là về tinh thần và vật chất. Nhưng sau các vụ đụng độ, Đảng Cộng Sản Trung Quốc bắt đầu công khai cung cấp vũ khí cho phe cộng sản Miến.

Hầu hết các tướng lĩnh, kể cả Thống Chế Than Shwe và Phó Thống Chế Maung Aye đều từng chỉ huy quân đội ở khu vực đông bắc, đánh nhau với phe cộng sản được Trung Quốc hậu thuẫn. Họ vẫn còn nhớ tới các chiến địa ngày xưa và thỉnh thoảng vẫn nói về sự căm ghét của họ đối với Trung Quốc

Cựu sỹ quan quân báo Miến Aung Lin Htot

Phát ngôn nhân của Đảng Cộng Sản Miến Điện, Po Than Chaung, hiện đang sống tại Dengchung thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc thừa nhận việc Trung Quốc cung cấp vũ khí đã giúp họ giành một số chiến thắng quân sự mà trước đó không ai nghĩ họ có thể đạt được.

Chuyện này gây căng thẳng giữa hai nước. Mặc dù quan hệ giữa hai chính phủ đủ nồng ấm để có các chuyến viếng thăm qua lại thường xuyên của các lãnh tụ hai bên, nhưng phe tướng lĩnh Miến Điện cảm thấy oán hận việc Trung Quốc can thiệp và giúp đỡ cho phe cộng sản Miến.

Cựu sỹ quan quân báo, đồng thời là một nhà ngoại giao hiện đang sống tại Hoa Kỳ, Aung Lin Htot nói ngay cả các lãnh đạo cao cấp của chính quyền quân nhân hiện nay cũng vẫn cảm thấy không tin cậy gì Trung Quốc.

Ông nói: "Hầu hết các tướng lĩnh, kể cả Thống Chế Than Shwe và Phó Thống Chế Maung Aye đều từng chỉ huy quân đội ở khu vực đông bắc, đánh nhau với phe cộng sản được Trung Quốc hậu thuẫn. Họ vẫn còn nhớ tới các chiến địa ngày xưa và thỉnh thoảng vẫn nói về sự căm ghét của họ đối với Trung Quốc."

Quyền lợi song phương

Tướng Than Shwe từng có mặt trong các chiến tuyến giao tranh ở khu đông bắc Miến Điện

Tuy nhiên, đến năm 1988, quan hệ song phương đã đột ngột thay đổi khi các tướng lĩnh Miến Điện cướp quyền, đàn áp dã man hàng ngàn người biểu tình ôn hòa.

Phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu đã dẫn đầu một loạt các nước lên án thể chế quân sự mới ở Miến Điện và bắt đầu tẩy chay.

Tình thế buộc các tướng lĩnh Miến Điện phải đón nhận sự yểm trợ từ Trung Quốc.

Các công ty Trung Quốc được trao ưu đãi và các hợp đồng vào kinh doanh tại Miến. Nguồn khoáng sản và tài nguyên giàu có của Miến Điện từ lâu đã lọt vào tầm ngắm của Trung Quốc và nay chính là cơ hội để họ tới làm ăn, khai thác và bòn rút những nguồn của cải của Miến.

Dòng chảy đều đặn từ Trung Quốc tràn vào Miến Điện thông qua hệ thống kiểm soát đường biên đầy tham nhũng và lỏng lẻo. Nó làm thay đổi bộ mặt của một số thành phố thuộc miền đông bắc.

Ngay cả ở miền trung Miến Điện, thành phố lớn thứ nhì đồng thời cũng là đất cũ của vương quốc xưa kia, Mandalay cũng trở thành nơi đa phần các cơ sở kinh doanh buôn bán thuộc về nhóm dân cư mới tới.

Ký giả nổi tiếng Kyaw Yin Myint sống tại Madalay nhận xét: "Ở trung tâm thành phố, người ta có thể nhìn thấy rợp trời băng đỏ với những dòng chữ tiếng Hoa ngay trước hầu như tất cả các tòa nhà. Trong dịp Tết Nguyên đán thành phố trở nên tê liệt vì các cơ sở kinh doanh đóng cửa hết. Những hoạt động kinh doanh trước đây do người địa phương làm thì nay rơi vào tay người mới đến. Họ có thẻ cư trú Miến Điện nhưng lại không biết nói tiếng Miến."

Dân bản địa vốn gắn bó cuộc sống và chuyện làm ăn ở khu ngoại vi thành phố thì tức giận trước những người mới tới, nhưng chẳng thể làm gì nhiều để thay đổi tình thế.

Nhiều người dân Miến Điện thấy rằng chính quyền hiện nay cần có sự bảo hộ của Trung Quốc trong cộng đồng quốc tế, cho nên đã trao cho người Hoa quá nhiều.

Ở trung tâm thành phố, người ta có thể nhìn thấy rợp trời băng đỏ với những dòng chữ tiếng Hoa ngay trước hầu như tất cả các tòa nhà. Trong dịp Tết Nguyên đán thành phố trở nên tê liệt vì các cơ sở kinh doanh đóng cửa hết. Những hoạt động kinh doanh trước đây do người địa phương làm thì nay rơi vào tay người mới đến. Họ có thẻ cư trú Miến Điện nhưng lại không biết nói tiếng Miến.

Ký giả Kyaw Yin Myint

Tiến sỹ Thaung Tun, phát ngôn viên phụ trách quan hệ với Liên Hợp Quốc của chính phủ lưu vong Miến Điện, Chính Phủ Liên Minh Dân Tộc Thống Nhất Miến Điện, nêu ví dụ: "Hồi 2007, khi vấn đề Miến Điện được thảo luận tại Hội Đồng Bảo An và được đưa ra biểu quyết thì Trung Quốc đã phủ quyết. Chỉ ba ngày sau đó, các tướng lĩnh Miến đã ký hợp đồng với các doanh nghiệp quốc doanh Trung Quốc, bán cho họ nguồn khí đốt tự nhiên ở Mỏ Khí Shwe thuộc khu duyên hải phía tây Miến Điện.

"Điều thú vị là cả Ấn Độ lẫn Nam Hàn đã đề nghị mua khí với mức giá cao hơn nhưng rốt cuộc thì hợp đồng lại rơi vào tay Trung Quốc. Sau đó thì chúng ta thấy là Trung Quốc đã liên tục tích cực bảo vệ Miến Điện trên các diễn đàn quốc tế."

Điều này khiến nhiều người Miến Điện cảm thấy giới tướng lĩnh có thể thoát khỏi các tội đối xử tàn bạo với đồng bào bởi đã được Trung Quốc chống lưng.

Họ bắt đầu đổ lỗi cho Trung Quốc trong vấn đề thiếu cải cách dân chủ tại Miến Điện.

Này, cảnh giác đấy, cựu sỹ quan quân báo Augn Lin Htut nhắc nhở. Các tướng lĩnh Miến thực ra chả tin cậy gì Trung Quốc và đang sẵn sàng đối phó với ông láng giềng hùng mạnh.

Ông nói: "Khi nhìn vào lực lượng quân đội tại Miến Điện, quý vị sẽ thấy là mọi mệnh lệnh quân sự mới đã được thiết lập dọc theo đường biên với Trung Quốc. Các tướng lĩnh luôn cảm thấy nếu như đất nước có kẻ đột nhập, thì đó sẽ chính là từ phía đông bắc. Quý vị có thể so sánh kế hoạch quân sự ở khu vực này với các vùng khác sẽ thấy, như với vùng tiếp giáp Thái Lan chẳng hạn."

Một bản phúc trình mới đây của Nhóm Nghiên Cứu Khủng Hoảng Quốc Tế nhận xét rằng mối quan hệ giữa Miến Điện và Trung Quốc có thể giải thích như một cuộc hôn nhân vì lợi ích mỗi bên chứ không phải vì tình yêu.

Trung Quốc cần những nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào của Miến Điện, còn giới tướng lĩnh Miến thì cần một ông bạn hùng mạnh như Trung Quốc để đối phó với sức mạnh dân chủ.

Trung Quốc muốn có một chế độ ổn định ở quốc gia láng giềng để khu vùng biên được yên ổn.

Thế nhưng những sự kiện gần đây ở vùng Kokkang, nơi quân đội Miến có chiến dịch chống lại nhóm sắc tộc thiểu số đã khiến nhiều người tị nạn chạy tràn sang khu đường biên với Trung Quốc. Nó cho thấy tình thế không có gì là yên ổn.

Khi Hoa Kỳ ngày càng tỏ thêm dấu hiệu muốn xem lại quan điểm cứng rắn trước đây với Miến, thì các tướng lĩnh có lẽ cảm thấy sự bảo hộ của Trung Quốc không còn là chuyện thiết cốt như trước.

Trong một mối quan hệ được xây dựng trên cơ sở quyền lợi mỗi bên, khi một đối tác thấy không còn có lợi để tiếp tục nữa, thì mối quan hệ sẽ chẳng thể tồn tại thêm được nữa.

**********************

source

BBC Vietnamese

Monday, 31 August 2009

Dân chủ tự ải

Dân Honduras biểu tình ủng hộ TT bị truất phế Manuel Zelaya tại Tegucigalpa, 11/8, 2009. Orlando Sierra/Getty Images
August 31, 2009
Dân chủ tự ải
Nguyễn Xuân Nghĩa-Việt Tribune
Các nền dân chủ có thể tự treo cổ...Bị vùi sâu dưới những chuyện quốc gia đại sự, có một tin rất nhỏ đã bị truyền thông Hoa Kỳ quên không đăng tải….Jamal Yousef là một cựu sĩ quan của quân đội Syria, nhưng lại buông súng để thành tay buôn súng, mà chỉ buôn súng cho quân khủng bố. Ba năm về trước, nhân viên tình báo Hoa Kỳ tại Honduras đã phát giác một nghiệp vụ cung cấp của Yousef. Hàng hoá là một kho võ khí vĩ đại gồm các loại súng AR-15, M-16, M-60, chất nổ C-4, lựu đạn (2.500 quả), súng phóng lựu và 18 hoả tiễn địa không. Bên mua là lực lượng phiến quân Mác-xít FARC của xứ Colombia, chuyên trị về nghệ thuật kết hợp khủng bố với buôn ma túy.
FARC trả tiền xương máu đó bằng một tấn nha phiến, cho Yoursef thoải mái phân phối khắp nơi, kể cả vào nước Mỹ.Yousef bị nhà chức trách Honduras bắt được và kết án ba năm tù vì những tội nhỏ. Ba năm đã mãn. Ở bên ngoài, từ nhiều năm nay, giới chức Hoa Kỳ xin dẫn độ Yousef qua Mỹ để ra toà về tội buôn bán ma túy và tiếp tế cho quân khủng bố. Hôm Thứ Tư 19 tháng Tám vừa qua, Yousef đã “hạ cánh” tại New York và có thể ngồi bóc ít ra là hai chục cuốn lịch: Chính quyền Honduras thoả mãn lời yêu cầu của Hoa Kỳ. Tin ấy vuột khỏi mối quan tâm của dân Mỹ vì bị truyền thông bỏ quên, cũng như bộ Tư Pháp Mỹ cũng quên không cám ơn Chính quyền Honduras về cử chỉ này. Chỉ vì Chính quyền Obama và bộ Ngoại giao Mỹ kết án việc Tối cao Pháp viện Honduras truất phế Tổng thống Mel Zelaya, một quyết định hợp hiến và hợp pháp của Honduras. Zelaya là một Tổng thống có tham vọng dùng quân đội cải sửa Hiến pháp để lại ra tái tranh cử sau khi mãn nhiệm và khi bị quân đội từ chối thì cách chức các tướng lãnh. Ông ta cũng thuộc khuynh hướng cực tả, coi Fidel Castro của Cuba hay Hugo Chavez của Venezuela là đồng chí, thần tượng nên được mấy xứ này cực lực bênh vực.Vì vụ “đảo chính” đó, Chính quyền Obama đòi trừng phạt Chính quyền của một xứ nhỏ bé và đang bị hăm dọa tứ bề. Vậy mà Honduras vẫn chơi bảnh và giúp Mỹ giải trừ nạn khủng bố và buôn lậu ma túy. Một ngày sau, một chuyện khác đã nổ lớn – cũng liên quan đến khủng bố.Chính quyền xứ Scotland – một quốc gia trong Vương quốc Anh (United Kingdom) – đã trả tự do cho một tay khủng bố của xứ Libya là Abdel Basser Ali al-Megrahi. Al-Megrahi là tay đặc công đã đánh bom phi vụ 103 của hãng Pan-Am vào tháng 12 năm 1988. Chiếc Boeing 747 nổ tung trên ngôi làng Lockerbie của Scotland khiến 270 người tử nạn – và vài năm sau Pan-Am phá sản. Các cuộc điều tra của quốc tế đã tìm ra bàn tay Lybia trong vụ khủng bố này và do áp lực của Liên hiệp quốc và các nước khác, al-Megrahi được giải giao cho toà án Scotland xét xử, để lãnh án tù chung thân, về sau được đổi ra 27 năm. Chưa đầy tám năm sau, ngày 20 vừa qua, Chính quyền Scotland viện lý do nhân đạo vì al-Megrahi lâm bệnh mà cho phép tay khủng bố này được tự do bay về Lybia. Chính quyền Lybia cho đón tiếp al-Megrahi như anh hùng dân tộc và được gặp lãnh tụ Moammar Gaddafi trong một lễ liên hoan! Chính quyền Obama cực lực lên án quyết định ấy của Scotland và một người cực kỳ kín đáo như Giám đốc FBI Robert Mueller cũng phải công khai than phiền. Tại Anh, vụ này làm Thủ tướng Gordon Brown lúng túng không ít và hy vọng tái đắc cử lại càng thêm mịt mờ.Mà chuyện không chỉ có vậy!Ngày 24 vừa qua, Bộ trưởng Tư pháp Scotland giải trình trước Quốc hội lý do nhân đạo khi tha bổng al-Megrahi. Nhưng, giới chuyên gia y khoa hoài nghi lý do bệnh lý trong khi dư luận nói ra nguyên nhân thật: Bộ trưởng Kinh doanh của Chính quyền Gordon Brown là Peter Mandelson đã trực tiếp thương thảo với Lybia về các hợp đồng cung cấp dầu khí của Lybia cho nước Anh. Cái giá là tự do cho al-Megrahi. Và cái tát là tay khủng bố này được Lybia chào mừng như một anh hùng – ngược với thoả thuận trước đó. Sau khi lên máy bay đưa “anh hùng” al-Megrahi từ Scotland về Tripoli, con trai của lãnh tụ Gaddafi là Saif al Islam Gaddai đã lên truyền hình Lybia xác nhận chuyện bán chác này!Nước Mỹ đâm ra ngẩn ngơ về chuyện đổi bạn lấy dầu! Một đồng minh chí thiết là nước Anh lại vì nhu cầu năng lượng – để thoát khỏi vòng phong toả của Liên bang Nga – buông tha quân khủng bố. Trong khi Obama coi cử chỉ hào hùng của xứ Honduras là không đáng kể! Lybia có dầu khí, Honduras thì nghèo kiết xác! Chuyện chưa hết. Ngày al-Megrahi được thả thì cũng là lúc Tổng thống Thụy Sĩ Hans-Rudolf Merz chính thức qua thủ đô Tripoli để xin lỗi lãnh tụ Gaddafi về việc tháng Bảy năm ngoái Thụy Sĩ đã bắt con trai và con dâu của Gaddadi tại trong một khách sạn cực sang ở Genève. Hannibal Gaddafi và vợ đã đánh đập người làm ngay trong khách sạn (và còn đòi quăng một người qua cửa sổ!) Năm ngoái, Lybia bèn trả đũa bằng cách ngưng bán dầu cho Thụy Sĩ. Bị mất 20% số dầu tiêu thụ vì một chuyện “không đâu” như vậy thì Tổng thống đành chắp tay đi xin lỗi, khiến thần dân của xứ sở văn minh hiền hoà này thấy nhục không ít!Scotland, Vương quốc Anh hay Thụy Sĩ là những tấm gương sáng về nền dân chủ của Tây phương. Mà sáng chỉ một phía! Khi bị Liên bang Nga chơi ép với đòn tấn công Georgia và xiết ống dẫn khí tại Ukraine, các ước Tây Âu đều biết mở bản đồ: tìm dầu ở đâu bây giờ? Tại Trung Đông hay Bắc Phi? Iran, Iraq, Al1gérie hay Lybia? Suy đi tính lại thì lãnh tụ khật khùng Gaddafi vẫn là người có thể nói chuyện phải quấy được. Miễn là ta hơi hèn một chút. Miễn là ta chịu hèn một chút nên ngày xưa dân Âu Châu đã từng lùi dần và nhượng bộ quyền tự do của từng người cho chủ nghĩa phát xít – để rồi chế độ Đức quốc xã lớn mạnh và đưa cả lục địa vào đại chiến khiến Hoa Kỳ phải nhập trận. Nhưng Hoa Kỳ ngày nay không là quốc gia có thể phê phán các đồng minh bên kia Đại Tây dương về sự thiếu đởm lược hoặc tinh thần thực dụng tới mức thành đồng lõa với tội ác.Năm xưa, 1975, một vị Tổng thống hiền lành như Gerald Ford còn từ chối gặp gỡ nhân vật bất đồng chính kiến khét tiếng của Liên bang Xô viết là nhà văn Aleksandr Solzhenitsyn, để khỏi làm Moscow phật ý. Ngày nay, nguyên Tổng thống Bill Clinton cũng… đeo đồng hồ Thụy Sĩ của Tổng thống Merz mà bay qua Bình Nhưỡng nói chuyện với lãnh tụ Bắc Hàn và đem về hai ký giả bị bắt làm con tin. Cũng thế, việc bộ Ngoại giao Mỹ rà lại đối sách với chế độ quân phiệt Miến Điện để giải tỏa dần lệnh cấm vận chưa chắc đã giúp gì cho lãnh đạo phong trào dân chủ là bà Aung San Suu Kyi. Nhưng có khi lại đem về nhiều hợp đồng năng lượng cho doanh nghiệp Mỹ, được tráng men là “nhằm kéo Miến Điện ra khỏi quỹ đạo Trung Quốc”. Các nhà đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam cũng sẽ được nhắc khéo như vậy! Đấy là tinh thần thực dụng của ngoại giao. Một lý do có vẻ như chính đáng vì mục tiêu sau cùng vẫn là để bảo vệ quyền lợi của Hoa Kỳ. Nhưng, chìm sâu bên dưới vẫn là phản ứng tự sát của các nền dân chủ. Và Hoa Kỳ đang dẫn đầu tinh thần đó.Chuyện thả quân khủng bố thì đang trở thành hiện thực ngay tại Mỹ với quyết định đóng cửa trại giam Guantanamo mà chưa biết sẽ đưa 240 tù phạm đi đâu. Không chỉ thả quân khủng bố mà còn truy tố nhân viên tình báo vì phương cách thẩm tra nghi can khủng bố đầy tính chất tra tấn! Người ta tra tấn nhau về định nghĩa của tra tấn và tổ chức việc thanh toán chính trị bằng tòa án. Chuyện này, bộ Tư pháp Mỹ đang làm thủ tục tiến hành, khiến Giám đốc Trung ương Tình báo CIA là Leon Paneta nổi điên – có khi sẽ đòi từ chức nay mai. Ông Panetta là nhân vật Dân Chủ ôn hoà, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Chính quyền Bill Clinton, nay đang phải xoay chuyển trong cơn tự sát tập thể ở chung quanh khi nhân viên bảo vệ an ninh cho nước Mỹ lại bị Chính quyền Obama coi là đáng nghi và đáng sợ hơn quân khủng bố. Nhưng, chuyện tự sát quy mô và rắc rối nhất vẫn là kế hoạch cải tổ chế độ bảo dưỡng sức khoẻ (health care) đang được xoay thành cải tổ chế độ bảo hiểm y tế (medical insurance). Những vấn đề chính đáng và nguy ngập của xã hội Mỹ – chi phí bảo dưỡng gia tăng, một số người không có bảo hiểm, sự phá sản tất yếu và kinh hoàng của quỹ An sinh Xã hội Social Security, Quỹ trợ cấp Y tế cho người già (Medicare) hay người nghèo (Medicaid) – bị chìm sâu trong cuộc vận động đại quy mô của các thế lực kinh doanh và chính trị, kể cả các nghiệp đoàn. Với những giải pháp giả tạo và chắc chắn là còn gây tốn kém lớn lao hơn nữa. Lồng trong đó là giải pháp trợ tử – giúp cho người già chóng đi theo quy luật đào thải thực dụng – hoặc việc phá thai nhờ tiền của công quỹ, và nhiều tính toán tàn nhẫn khác.Trong khi ấy, truyền thông vẫn không thể giải thích được sự việc cho rõ ràng vì chưa ai đưa ra được một kế hoạch phân minh ngoài đạo luật ngàn trang của Hạ viện. Nhiều nhà bình luận thiếu am hiểu còn nhảy vào trong cuộc với những giải thích không ngây ngô thì nhuốm mùi xuyên tạc. Có người ngớ ngẩn cao độ, trí nhớ lại rất kém, còn mơ ước một loại “hợp tác xã y tế” để bảo đảm sức khoẻ cho mọi người! Chế độ công quản y tế đó đã có một tiền lệ vừa tanh bành mà cứ vội quên. Đó là hai công ty bán công về tài trợ tín dụng gia cư Fanny Mae và Freddie Mac bị phá sản năm ngoái! Khi nhà nước bao cấp của Obama nhân cơn suy thoái kinh tế mà nắm lấy việc chi thu cho mục tiêu “kích thích kinh tế” và cải tạo xã hội thì bội chi ngân sách đã vội bốc lên trời: chín ngàn tỷ đô la trong suốt 10 năm tới. Gánh nặng công trái sẽ vượt mọi kỷ lục cổ kim và sụp lên đầu các thế hệ kế tiếp. Khi nhà nước bao cấp đó lại đòi quản lý luôn sức khoẻ của toàn dân, chúng ta nên chờ đợi nhiều chuyện kinh hãi khác! Các nền dân chủ thường có sức mạnh nhờ quyền tự do của người dân nên khó sụp đổ nếu bị tấn công từ bên ngoài. Nhưng ngay bên trong, các xã hội dân chủ cũng có bản năng tự sát khi tự gây họa. Rồi cứ vậy mà lụn bại dần. Nền dân chủ có thể tự treo cổ – tự ải. Nhại lời của (...), hãy tìm hiểu xem ai bán sợi dây oan nghiệt đó cho họ? [NXN]

***************************
source
Viet Tribune Online

Friday, 28 August 2009

Hungary mở cửa cho Đông Đức ra sao




Cựu thủ tướng Hungary Nemeth (BBC)

Cựu thủ tướng Hungary Miklos Nemeth tin rằng ông đã nắm được tín hiệu từ vị thế của ông Gorbachev.

"Chính tại Hungary mà viên đá đầu tiên đã được gỡ bỏ khỏi bức tường Berlin," cựu Thủ tướng Đức Helmut Kohl nói.

Người kế nhiệm của ông, bà Angela Merkel đã tới thị trấn Sopron của Hungary hôm thứ Tư để cảm ơn quốc gia này đã mở cửa biên giới của mình cách đây 20 năm. Quyết định này đã dẫn tới sự sụp đổ của bức tường nổi tiếng ba tháng sau đó.

Nhưng có một điều khá tò mò là một buổi picnic tại một cánh đồng bên ngoài Sopron đã làm thay đổi bộ mặt của Châu Âu.

Vào mùa hè năm 1989, hàng ngàn khách du lịch Đông Đức đã lên đường qua Hungary, tìm cách để tới Áo. Điều đã thúc đẩy họ chính là quyết định dũng cảm hồi đầu năm đó của vị thủ tướng theo đường lối cải cách của Hungary, Miklos Nemeth, đem gỡ bỏ hệ thống an ninh dọc theo biên giới.

"Tôi nghĩ rằng bức tường này đã lỗi thời trong thế kỷ 20," ông Nemeth nói với BBC. Một lý do nữa là Hungary, khi đó chịu quá nhiều nợ nần, đơn giản là không có đủ kinh phí 1 triệu đô-la để duy trì nó.

Robert Breitner

Robert Breitner tại khu vườn nhà thờ mà ông đã tá túc 20 năm trước.

Khi đi nghỉ trở về trong chiếc xe công vụ của mình, ông Nemeth đã bị sốc khi nhìn thấy hàng trăm thanh niên và gia đình của họ cắm trại bên ngoài tòa lãnh sự Tây Đức ở thủ đô Budapest. Nhiều người khác tìm chỗ tá túc tại Nhà thờ Gia đình Thần thánh đường bệ tọa lạc tại một quận nhiều cây cối, bóng mát ơ thủ đô Hungary.

Một trong số này là Robert Breitner, khi đó 19 tuổi. Ông này đã tới nơi mà chỉ có một bộ áo quần trên người, sau khi đánh mất ba-lô trong một lần trốn bất thành.

"Đường phố tràn đầy các loại xe hơi Đông Đức," ông hồi tưởng.

"Nhiều gia đình đến đích trong hai hoặc ba chiếc xe ô tô sau nhiều lần bỏ trốn. Họ mất chiếc xe này thì dùng chiếc khác!"

Câu chuyện của ông Breitner khá là điển hình. Vì gia đình của ông theo Cơ Đốc giáo, ông không được phép học trung học tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Ông cũng không thể tới Liên Xô, và cũng không thể tới được Tây Đức, nơi mà hầu hết họ hàng, thành viên gia đình sinh sống.

Họ sợ chúng tôi tập hợp họ lại tại một địa điểm và trao họ về tay các giới chức chính quyền Đông Đức.

Cha Kozma

Từ năm 14 tuổi, ông đã quyết định bỏ trốn. "Tôi lớn lên chỉ cách bức tường Berlin 300 mét, nhưng với tôi, việc thử vượt nó ở đây là quá nguy hiểm," Breitner nói. Ông nghĩ tại Hung-ga-ri "khả năng bị giết chết không cao như thế".

Mật vụ Đông Đức

Người đã mở cửa vào nhà thờ là Cha Imre Kozma, người phụ trách tổ chức từ thiện 'Order of Man-ta'. Tổ chức thiện nguyện này đã dựng các lều lán và phân phối lương thực - tất cả diễn ra dưới con mắt theo dõi của mật vụ Đông Đức (Stasi) với các nhân viên được cắm ngay ở phía bên kia đường.

Cha Kozma nói rằng những người tị nạn sợ nhau và sợ cả các tình nguyện viên người Hungary.

Cha Kozma

Cha Kozma nói những người tị nạn sợ lẫn nhau.

"Họ sợ chúng tôi tập hợp họ lại tại một địa điểm và trao họ về tay các giới chức chính quyền Đông Đức."

Rồi vào tháng tám, nơi này ngập đầy các tờ rơi nói về một chuyến picnic xuyên Châu Âu.

Phe đối lập đã quyết định tổ chức sự kiện này như một buổi lễ chào mừng tình láng giềng hữu hảo, với bia và thịt nướng trên lò, ngay trên biên giới với Áo. Thế nhưng những người tị nạn còn muốn nhiều hơn là một cuộc picnic.

Ngày nay, bạn có thể lái xe hay đi bộ vào Áo mà không hề bị chất vấn. Bức màn sắt đã trở thành một bức tường để dựng xe đạp.

Tuy nhiên, hồi tháng 8/1989, vẫn còn nhiều hàng rào thép gai ở đó. Chỉ trước 3 giờ chiều hôm đó, trung tá Arpad Bella, người phụ trách trạm biên giới phía bên Hungary, thấy một đám đông nam giới, phụ nữ, thậm chí trẻ em lao chạy về phía ông.

Ngay trước mắt của ông, làn sóng đầu tiên của những người tị nạn Đông Đức xô về phía Tây một chiếc cổng bằng gỗ mà phía trên nóc được rào bằng kẽm gai. Một số khóc, số khác cười vang, ôm lấy nhau. Những người khác tiếp tục chạy vì họ không tin rằng đã ở trong phần đất của Áo.

Laszlo Nagy (BBC)

Laszlo Nagy, người tham gia tổ chức tiệc picnic xuyên Âu

Tình thế lưỡng nan

Không hề có được một chỉ dẫn rõ ràng nào từ cấp trên, Trung tá Bella quyết định không nổ súng. "Điều đó thật khủng khiếp đối với tôi!" ông nói. "Hai trăm người dân này chỉ cách tự do có mười mét. Do đó, tôi đã ra một quyết định mà tôi nghĩ là tốt nhất đối với Hungary và cho lương tâm của chính tôi."

Ở phần bên kia biên giới, chánh thanh tra người Áo, Johann Goeltl đối diện với một tình thế lưỡng nan khác. Trong cuộc chạy trốn tìm tự do, một gia đinh Đông Đức bị rớt lại một đứa con trai tám tuổi, ở bên kia cổng biên giới, mà bấy giờ đã bị đóng lại.

"Hãy làm ơn, hãy làm ơn cho cháu được đi qua," họ nài xin", Nếu không chúng tôi sẽ phải trở lại với chế độ khủng khiếp đó". Và bằng một cách nào đó, chánh thanh tra Goeltl đã làm được việc là cho cậu bé lọt qua.

Bản đồ Hung-ga-ri

Đến cuối ngày hôm đó, hơn 600 người Đông Đức đã băng qua được phía Tây. Ba tuần sau đó, khi Hungary cho mở cửa biên giới hoàn toàn, 60.000 người nữa đã tràn qua. Trong số những người đầu tiên rời đi là Robert Breitner, người đã tới kịp Berlin để chứng kiến bức tường sụp đổ.

Nhưng hơn 20 năm trôi qua, Trung tá Bella cảm thấy ông chỉ là một nhân vật trong một vở diễn phức tạp mà người đạo diễn vẫn chưa được biết đến. Vài trong số những người đã tổ chức cuộc pic-nic xuyên Châu Âu, như kỹ sư Laszlo Nagy, cũng cảm thấy các chính trị gia đã sử dụng sự kiện này để thử nghiệm xem họ có thể đưa sự việc đi xa tới đâu.

"Nếu bạn đang tham gia một cuộc thử nghiệm mà bạn không được thông báo trước, bạn cảm thấy như mình là một con sâu được người ta sử dụng làm mồi câu cá," Ông Nagy nói. "Họ ném chúng tôi xuống mực nước sâu và họ nhìn xem liệu những con cá mập có tới hay không."

Cá mập ở đây đương nhiên là Liên Xô, khi đó vẫn có tới 100.000 quân đồn trú tại Hungary. Dưới thời Mikhail Gorbachev, người Nga có vẻ được hướng về các cuộc cải cách hơn là tới các can thiệp quân sự.

Vào tháng ba năm 1989, ông Miklos Nemeth nói với nhà lãnh đạo xô-viết rằng ông có kế hoạch tháo gỡ hàng rào kẽm gai dọc theo biên giới. Ông Gorbachev đã phản ứng một cách ôn tồn và nói rằng vấn đề an ninh biên giới đó là việc của ông Nemeth, chứ không phải là việc của ông. Vị Thủ tướng Hungary coi đây như là đèn xanh đã được bật. Nhưng liệu sự việc đã có thể diễn biến khác đi?

"Chắc chắn thế, chúng tôi đã làm ra nhiều kịch bản," Ông Nemeth nói.

"Đối với tôi, điều quan trọng nhất trong thời điểm đó là tôi nhận định ra sao vị trí của ông Gorbachev trong cơ cấu quyền lực. Nếu ông ta bị của người bị hạ bệ, đá văng ra khỏi quyền lực, đã có thể có một câu chuyện khác, tôi có thể cho bạn biết."

Cũng giống như ông Gorbachev, ông Nemeth hồi hưu khỏi sự nghiệp chính trị. Ông hơi buồn vì Hungary không còn là một quốc gia dẫn đầu ở Trung Âu nữa.

Trung tá Bella và chánh thanh tra Goeltl trở thành bạn bè và thường xuyên gặp gỡ để nói chuyện về quá khứ.

Robert Breitner đi vào nghiên cứu chính trị học và hiện đang làm việc tại St Petersburg, ông hạnh phúc khi thấy cả hai phía Đông và Tây có thể làm ăn kinh doanh với nhau.

Còn đối với Cha Kozma, đã có ít thay đổi xảy ra. Ông vẫn lái một trong những chiếc xe hơi hiệu Trabants đã được những người tị nạn Đông Đức mà ông từng giúp đỡ, bỏ lại cách đây 20 năm.

*********************************************

source

BBC Vietnamese

Ký ức gây chia rẽ



Trong bài thứ hai của loạt đánh dấu sự bùng nổ Thế chiến Hai 70 năm trước, sử gia người Anh Orlando Figes phân tích ý nghĩa của Hiệp ước Molotov-Ribbentrop đối với châu Âu năm 1939 - và ý nghĩa của nó ngày hôm nay.

Các nước Đông Âu vẫn nhớ về hiệp ước với sự căm ghét


"70 năm đi qua, hiệp ước giữa Hitler và Stalin vẫn phủ bóng lên châu Âu. Ký ức về nó tiếp tục gây chia rẽ.

Với người Ba Lan, Lithuania, Latvia, Estonia và Bessarabia, hiệp ước này mở đầu thời kỳ khủng bố, lưu đầy hàng loạt, nô lệ và giết chóc mà cả Đức Quốc xã lẫn Hồng quân cùng đem lại khi hai bên phối hợp xâm lược các nước này thể theo nghị định thư bí mật của hiệp ước - theo đó, Stalin và Hitler đồng ý chia đôi Đông Âu.

Với người Do thái trên các phần đất này, hiệp ước cấp giấp phép cho sự diệt chủng (Holocaust). Với phe Tả ở châu Âu, ý nghĩ rằng lãnh đạo Liên Xô có thể ký hiệp ước với Hitler là biểu tượng của sự phá sản đạo đức của thể chế Sô Viết.

Trong thời gian dài, những người bênh vực Stalin tìm cách lý giải sự quay ngoắt ý thức hệ như là một nhu cầu thực tiễn để "mua thời gian" cho Liên Xô tự vệ trước Đức.

Rõ ràng đến mùa hè 1939, Stalin có lý do để nghi ngờ Pháp và Anh không thực sự muốn có liên minh quân sự với Liên Xô. Việc Ba Lan, dễ hiểu, không cho phép Hồng quân đóng trên đất Ba Lan là trở ngại chính. Điều này khiến lãnh đạo Liên Xô ngả sang đề nghị an ninh của Hitler.

Nhưng Stalin không xem chuyện này là để mua thời gian cho cuộc chiến chống Đức mà cuối cùng nổ ra năm 1941.

Ông không phân biệt giữa các nước tư bản tự do và độc tài phát xít - cả hai đều là kẻ thù.

Qua hiệp ước, ông nghĩ rằng có thể khiến hai phe này đánh nhau bằng cách cho Hitler rảnh tay xâm lược Ba Lan và đánh các đồng minh Tây phương mà không có sự can thiệp của Liên Xô.

Stalin có những tính toán gì khi ký hiệp ước?

Stalin nói năm 1939: "Chúng ta không phản đối chiến tranh [giữa Đức và các nước Tây phương] nếu chúng đánh nhau và làm suy yếu lẫn nhau."

Cùng với hiệp ước - được Ngoại trưởng Đức Joachim von Ribbentrop và Ngoại trưởng Nga Vyacheslav Molotov ký - còn là nghị định thư bí mật. Trong nhiều năm sau đó, Liên Xô phủ nhận sự tồn tại của chúng.

Mãi đến năm 1989, sau các cuộc tuần hành đánh dấu 50 năm ngày ký hiệp ước, một ủy ban Liên Xô mới thừa nhận chúng tồn tại - cho dù văn bản đó cũng chỉ công bố tại Nga vào năm 1992.

Hiệp ước vẫn là sự mất mặt cho những người ở nước Nga thời Putin tự hào về thành tựu của Liên Xô trong cuộc chiến.

Việc kỷ niệm nó là cái gai thường trực trong quan hệ của Nga với các nước châu Âu láng giềng, những nước nhìn hiệp ước từ góc cạnh đàn áp của Liên Xô sau 1945.

Nghị viện châu Âu đã kêu gọi đặt ngày 23/08 thành ngày tưởng nhớ mọi nạn nhân của các chính thể toàn trị - Hitler và Stalin. Đó không phải là ý tưởng tồi.

Có lẽ nó sẽ giúp giảm căng thẳng do ký ức về hiệp ước tạo ra."

Orlando Figes là Giáo sư Lịch sử tại trường Birkbeck College, University of London. Ông là tác giả nhiều sách về lịch sử Nga, và tác phẩm mới nhất là The Whisperers: Private Life in Stalin's Russia (2007). Sách của ông đã được dịch sang hơn 20 thứ tiếng.

*******************************************************

source

BBC Vietnamese

Sunday, 16 August 2009

Tháng 4, 1865 tại Appamatox, Virginia


May 02, 2008

Tháng 4, 1865 tại Appamatox, Virginia

Phan Quang Tuệ

Ngày 9 tháng 4, 1865 rơi đúng vào ngày Chủ Nhật, ngày lễ lá khởi đầu tuần thánh đánh dấu ngày Chúa Giê Su vào thành Jerusalem.

Đêm trước đó, Đại Tướng Robert Lee thống lãnh Quân đội Miền Nam cùng Ban Tham Mưu ngừng chân đặt bản Doanh Bộ chỉ huy trong một cánh rừng gần Toà Thị Xã Appamatox, thuộc tiểu bang Virginia. Sáu ngày liên tiếp trước đó đạo quân miền Nam đã đi không ngừng nghỉ tiến về phía Tây hướng về dãy núi Blue Ridge nơi mà Tướng Lee từng tuyên bố ông có thể cầm cự chiến đấu ít nhất là 20 năm. Nhưng đêm nay khi tướng Lee và Bộ Tham Mưu mệt mỏi của ông dừng quân tại Appamatox thì đạo quân miền Nam đang bị quân đội miền Bắc bao vây, lương thực cạn, hy vọng tiếp tế không có, hy vọng tăng viện cũng không. Xa xa tiếng đại bác xé màn đêm dội về. Tất cả hy vọng của tướng Lee đặt vào một vị tướng trẻ gan dạ, John Gordon, để xuất phát sáng sớm hôm sau tiến quân chọc thủng phòng tuyến bao vây của quân đội miền Bắc.

Các tranh sơn dầu về cuộc nội chiến Mỹ năm 1867. Civil war.com

Cách đó không xa, viên sĩ quan phụ tá của tướng Grant, thống lãnh quân đội miền Bắc, bước vào phòng riêng của tướng Grant để đánh thức ông dậy. Lúc ấy mới 4 giờ sáng, nhưng căn phòng trống không. Bước ra ngoài người sĩ quan trẻ thấy bóng tướng Grant đang bước tới lui, hai tay bóp trán, cố gắng làm dịu cơn nhức đầu đang hành hạ. Người sĩ quan hầu cận vội mang đến tướng Grant một tách cà phê nóng hổi. Tách cà phê dẫu có giúp cơn nhức đầu nhưng không làm giảm bớt mối căng thẳng lo âu của tướng Grant. Sau cùng tướng Grant kéo ghế ngồi, và khởi sự thảo bức thư trả lời thư mới nhận được từ tướng Robert Lee. “Tôi rất muốn hòa”, tướng Grant viết, “và mong muốn kết thúc cuộc chiến mà không phải tổn thất thêm một nhân mạng nào nữa. Nhưng cuộc hội kiến do Đại Tướng đề nghị vào 10 giờ sáng hôm nay không có một lợi ích nào cụ thể và tôi không có thẩm quyền quyết định hoà hay chiến.” Nhưng bức thư của tướng Grant đã không kịp đến tay tướng Lee. Tiếng súng đã lại bắt đầu nổ.

5 giờ sáng, sương mù còn bao phủ rặng đồi bên kia Appamatox. Loạt đạn đầu tiên xé màn sương, đánh thức sáng Chủ nhật, tiếp theo là tiếng thét tiến quân của quân đội miền nam. Từng đợt tấn công của tướng Gordon đã đánh bật tuyến phòng thủ đầu của quân miền Bắc, chiếm nhiều cỗ súng đại bác, đánh bạt hai bên mở rộng đường tiến quân, và ào ạt tiến lên đồi. Nhưng từ phiá bên kia đồi, quân miền Nam đã đụng phải một bức tường dày đặc, kéo dài hơn 2 dặm, của hai đơn vị bộ binh quân đội miền Bắc. Và ép từ phiá sau là hai đơn vị bộ binh quân miền Bắc tiến lên. Quân miền Nam bị ép vào giữa, tiến không được, lui cũng không xong, và chém vè cũng không được. Chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ sau, tướng Lee được tin khấp báo của tướng Gordon “Quân sĩ của tôi đã chiến đấu hết mình. Trình Đại Tướng tôi không làm gì hơn được nữa!”.

Lập tức tướng Lee triệu tập Ban Tham Mưu thâu hẹp để quyết định hoà hay chiến. Chuẩn Tướng Alexander, mới 29 tuổi, chỉ huy đơn vị pháo binh, được tướng Lee tín cẩn, đề nghị một giải pháp thứ ba. Quân đội miền Nam sẽ tan hàng, xé nhỏ biến vào vùng đồi núi, và khởi đầu một cuộc chiến du kích lâu dài hơn. Tướng Alexander bảo đảm ít nhất là 2/3 lực lượng quân miền Nam sẽ thoát được vòng vây.

Tướng Lee ngồi im lặng, cân nhắc. Ông còn đủ lực lượng để kéo dài cuộc chiến. Và quyết định của ông sẽ ảnh hưởng không những đến số phận của quân đội miền Nam, của sĩ quan binh sĩ dưới quyền và gia đình của họ, của cuộc nội chiến Nam Bắc, mà còn cho cả số phận và tương lai của một quốc gia mới thành hình.

“Không”, tướng Lee cất tiếng, “Tôi và quý vị tướng lãnh không có quyền chỉ nghĩ đến số phận của mình. Chúng ta phải nghĩ đến tiền đồ của quốc gia nói chung. Quý vị có thể kéo vào đồi núi để khởi sự cuộc chiến du kích, nhưng con đường xứng đáng nhất còn lại cho tôi là chấp nhận đầu hàng trước tướng Grant và hoàn toàn nhận trách nhiệm về những hành vi của tôi.”

Và với lời tuyên bố đó, tướng Robert Lee, một tướng lãnh được binh sĩ dưới quyền tôn sùng tuyệt đối, đã làm một quyết định có tầm vóc lịch sử.

Tướng Lee nói với các tướng bao quanh: “Giờ đây tôi chẳng còn làm gì hơn là đến trình diện và đầu hàng trước tướng Grant.”

Và ông chuẩn bị trang phục để lên đường đi gặp Tướng Grant. Ông mặc trang phục đại lễ của một đại tướng, đeo bao tay, lưng thắt một vòng lụa đỏ, hông mang trường kiếm. “Hôm nay ta có thể bị tướng Grant bắt làm tù binh, ông giải thích với thuộc tướng, và ta muốn xuất hiện một cách trang trọng đúng với quân cách.”

Tin đến từ bản doanh của tướng Grant cho biết ông đang trên đường đến hội kiến với tướng Lee và yêu cầu tướng Lee cho biết giờ và điạ điểm hội kiến. Nghĩa là Tướng Grant, người chiến thắng, dành cho tướng Lee, kẻ chiến bại, ưu tiên chọn thời gian và địa điểm cuộc hẹn để đầu hàng. Lại một quyết định thoạt xem không đáng kể, nhưng có hậu quả lịch sử.

Tướng Lee tức khắc ra lệnh cho sĩ quan tuỳ viên lên đường tìm ngay một địa điểm thuận tiện. Và trong khi chờ đợi, tướng Lee đến ngã mình tựa lưng vào một thân cây. Tướng Lee nhắm mắt lại và thiếp đi lúc nào không hay. Ông đã thức giấc từ sớm và gần đến trưa chưa nuốt một tí gì vào bụng.

Nơi được chọn là một căn nhà nhỏ mái ngói thuộc Appamatox, một thị xã hẻo lánh nằm vào phiá Nam tiểu bang Virginia. Có độ chừng 20 căn phố, lèo tèo vài cửa hàng nhỏ, một lữ quán và toà thị xã. Khi mặt trời leo lên cao là lúc tướng Lee bước vào nơi hẹn tiếp theo một sĩ quan tuỳ viên và một sĩ quan tham mưu thuộc Bộ Tham Mưu của Tướng Grant. Tướng Lee, uy nghi trong bộ binh phục đại lễ, hông đeo trường kiếm, ngồi xuống cạnh một chiếc bàn gỗ nhỏ. Giờ đây ông đã ngồi ngay trong lòng đất đối phương. Vị tướng lãnh quý phái miền Nam bắt đầu chờ đợi, kiên nhẫn.

Vào khoảng nửa tiếng sau, tiếng giày nện lên sàn gỗ và tướng Grant bước vào. Khác hẳn với tướng Lee, tướng Grant không đeo kiếm, không mặc quân phục, quần và đôi ủng lấm đầy bùn.

Tướng Lee đứng dậy. Hai tướng lãnh đối thủ bắt tay và cùng ngồi xuống cách xa nhau. Khoảng chừng hơn mười sĩ quan tham mưu của tướng Grant đứng im lặng trong hành lang. Gương mặt của tướng Lee bất động. Để giảm không khí căng thẳng, tướng Grant mở đầu: “Tướng Lee, tôi đã gặp ngài một lần trước đây khi cả hai chúng ta đến phục vụ trong quân đội tại Mễ Tây Cơ. Tôi vẫn còn nhớ mãi lần gặp ngài đầu tiên.” “Vâng”, Tướng Lee trả lời “Tôi nhớ có gặp ngài rồi nhưng không thể nhớ rõ hơn.”

Câu chuyện có lúc chậm lại nhưng rồi tiếp tục và trở thành gần như thân mật cho đến lúc tướng Lee cắt ngang.

“Thưa tướng Grant tôi mạn phép thưa đại tướng là mục đích cuộc hội kiến giữa chúng ta để xác nhận những điều kiện để đại tướng chấp thuận sự đầu hàng của quân đội của tôi.”

Tướng Grant trả lời, “Điều kiện đầu hàng là những điều kiện tôi đã nói rõ trong thư tôi gửi Đại Tướng ngày hôm qua, nghĩa là tất cả mọi sĩ quan và binh sĩ phải buông súng đầu hàng và tất cả vũ khí, đạn dược, quân trang, quân bị phải được giao nộp như bị tịch thu.”

Tướng Lee gật đầu. Những lời nói của tướng Grant đã đánh tan nỗi lo sợ trong lòng của tướng Lee từ chập sáng. Tướng Lee nói, “Vâng, tôi cũng nghĩ rằng đó sẽ là những điều kiện mà Đại Tướng sẽ ấn định.”

Tướng Grant trả lời, “Vâng, và tôi hy vọng những điều kiện đầu hàng sẽ đưa đến sớm một cuộc ngưng bắn trên tất cả mặt trận và sẽ là phương tiện để khỏi gây thêm bất cứ một tổn thất nhân mạng nào nữa.”

Sau đó, theo lời yêu cầu của tướng Lee, tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện chính thức đầu hàng của quân đội liên hiệp miền Nam và sau đó tự tay trao cho tướng Lee xem lại.

Chậm rãi, từ tốn, tướng Lee rút cặp kiếng đeo mắt, lấy khăn lau kỹ lưỡng, đeo kính lên và chăm chú đọc.

“…. Vũ khí, đại bác và các tài sản công phải được liệt kê, sắp xếp và giao nộp cho một viên sĩ quan do tôi chỉ định. Những vũ khí này sẽ không gồm có vũ khí cá nhân của các sĩ quan, cũng như ngựa và tư trang của họ. Sau khi hoàn tất, mọi sĩ quan và binh sĩ sẽ được phép trở về nguyên quán, và sẽ không bị quấy nhiễu bởi các cơ quan cầm quyền chừng nào họ tôn trọng lệnh đầu hàng và tuân theo luật lệ địa phương nơi họ cư ngụ.”

Lần đầu tiên trong buổi hội kiến, gương mặt của tướng Lee tươi hẳn. Như vậy có nghĩa là sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của ông sẽ không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Có nghĩa là họ sẽ không bị đem ra bêu riếu diễn hành hạ nhục trên các đường phố. Có nghĩa là họ sẽ không bị mang ra toà truy tố về tội phản loạn.

Tướng Lee nói, “Thưa Đại Tướng, những điều kiện đầu hàng thế này sẽ có ảnh hưởng rất tốt với quân đội của tôi.” Và tướng Lee nói tiếp, “Nhưng thưa ngài, trong quân đội miền Nam cuả tôi, ngay cả binh sĩ khi gia nhập cũng mang theo ngựa của họ vào quân đội.”

Tướng Grant nói ông sẽ không thay đổi gì trong văn kiện đầu hàng, nhưng sẽ ra khẩu lệnh cho phép mọi binh sĩ miền Nam được phép mang ngưạ và lừa về quê quán để xử dụng trong việc trồng trọt ở các nông trại.

Nhưng Tướng Lee còn thêm một lời yêu cầu nữa. Ông trình bày cho tướng Grant biết ông còn giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc nhưng không có lương thực cung cấp cho họ và ngay chính quân đội của ông cũng không còn lương thực. Không ngập ngừng, tướng Grant đề nghị sẽ ra lệnh xuất kho cấp ngay khẩu phần cho hơn 25,000 quân sĩ của quân đội liên hiệp miền Nam. Tướng Grant hỏi, “Như vậy, đủ chưa?”

“Thưa quá đủ, quá đủ, thưa đại tướng.” Tướng Lee trả lời.

Tướng Lee đứng dậy, lần lượt bắt tay các sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của tướng Grant, bắt tay tướng Grant, nghiêng mình chào tất cả mọi người có mặt và bước ra khỏi căn nhà.

Tướng Lee ngừng chân ở đầu cầu thang. Gương mặt nghiêm trang và buồn bã. Tay cầm bao tay và mũ lông. Ông cảm thấy cô đơn tận cùng. Tướng Lee máy móc đưa tay chào lại những sĩ quan cao cấp quân đội chiến thắng miền Bắc đang rập chân nghiêm chào ông khi ông bắt đầu bước xuống cầu thang. Với một giọng mệt mỏi, gần như thều thào, tướng Lee ra lệnh sĩ quan hầu cận đem con tuấn mã trung thành, sửa lại thế ngồi, và thúc nhẹ vào hông ngựa. Lúc ấy tướng Grant và ban sĩ quan tham mưu đã đứng sẵn ở bao lơn trước căn nhà. Khi ngựa tướng Lee rảo bước qua, cặp mắt của hai vị tướng quân chạm nhau một giây phút, họ đồng ngã nón chào. Trên bao lơn xung quanh tướng Grant và suốt trong sân trước căn nhà lịch sử, sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đều đưa tay chào kính vị tướng bại trận quân đội liên hiệp miền Nam.

Tin đồn đầu hàng của tướng Lee tràn lan mau chóng như thuốc súng. Khắp nơi binh sĩ miền Bắc reo mừng. Họ liệng lên không trung mũ nón, giày, bao đạn, áo hay bất cứ gì tung lên được. Họ ôm nhau, hôn nhau. Các súng ống, kể cả đại bác bắt đầu nổ. Thế nhưng tướng Grant ra lệnh ngưng ngay tức khắc những biểu lộ bày tỏ của binh sĩ miền Bắc. “Rồi sẽ có ngày mừng chiến thắng”, tướng Grant giải thích, “Nhưng không phải là ngày hôm nay. Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Nhưng chúng ta không reo mừng trên chiến bại của họ.” Điều quan trọng với tướng Grant là làm sao thắng trận mà đồng thời giữ được sự toàn vẹn của dân tộc.

4:30 chiều ngày 9 tháng 4, 1865, Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh tại Hoa Thịnh Đốn nhận được một điện văn ngắn ngủi của tướng Grant, “Tướng Lee đã buông súng đầu hàng quân đội miền Nam theo những điều kiện do tôi ấn định.”

Cách đó không bao xa, tướng Lee cỡi ngưạ trở về bản doanh của mình. Dọc hai bên đường, binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ tôn sùng. Nhiều người bật khóc, phủ phục bên đường. Tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến đại bản doanh, trước mặt sĩ quan và binh sĩ đứng chờ, tướng Lee hướng về họ và nói: “Ta đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Và nay lòng ta nặng chĩu để có thể nói gì hơn.”

Bước đi vài bước, ông dừng lại và thêm: “Các ngươi hãy trở về quê quán. Và nếu các ngươi sống được như những công dân tốt như các ngươi đã từng chiến đấu như các chiến sĩ thì các ngươi sẽ thành công rồi. Và tôi sẽ luôn luôn hãnh diện vì các anh em.” Và tướng Lee biến mình vào trong lều vải của mình.

Mặt trời bắt đầu ngã mình về phiá Tây. Một cơn mưa nhẹ dần dần bao phủ bầu trời.

Qua ngày hôm sau, ngày 10 tháng 4, 1865, Tướng Lee công bố Quân Lệnh cho Toàn Quân. Quân Lệnh được gọi là General Orders Number 9 chính thức ra lệnh đầu hàng cho đạo quân liên hiệp miền Nam. Dẫu ngắn ngủi nhưng lời lẽ đanh thép, hùng dũng oai nghiêm, bản Quân lệnh của Tướng Lee được hậu thế lưu lại như một trong những văn kiện lịch sử được tôn sùng tại miền Nam Hiệp Chủng Quốc.

Nếu điều kiện đầu hàng được hai tướng Lee và Grant ký kết tại Appamatox ngày 9 tháng 4, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 tháng 4 mới là ngày quân liên hiệp miền Nam chính thức buông súng đầu hàng.

Tướng Grant ra lệnh tổ chức một lễ đầu hàng chính thức. Lệnh của tướng Grant là buổi lễ đầu hàng phải thật giản dị. Lễ đầu hàng này đã đi vào lịch sử của cuộc nội chiến Nam Bắc.

Hai đạo quân dàn đôi bên con đường dài nằm dọc theo phiá Đông Appamatox. Phiá sau là giải đồi chập chùng với những cánh rừng nhỏ và từng ngọn đồi cỏ rậm rạp. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường. Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Đại tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt.

Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký cuả mình: “Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một giòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Đây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường.”

Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên.

Phiá đối diện, tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một giáng đìệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận”, họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.

Và phiá hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại.

Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và nhuộm máu đã khô và khẽ đặt nhẹ xuống mặt đất.

5 ngày sau khi tướng Lee đầu hàng, một biến cố xảy ra làm rung động nước Mỹ. Ngày 14 tháng 4, 1865, ngày thứ sáu tuần thánh, tổng thống Abraham Lincoln bị ám sát, bộ trưởng Bộ Nội Vụ bị thảm sát, Phó Tổng Thống Andrew Johnson bị ám sát hụt. Cả nước Mỹ, chưa ra khỏi hoàn toàn cuộc nội chiến, lâm vào vực thẳm một cuộc nội loạn. Nhưng cuộc nội loạn đã không xảy ra. Như một phép lạ mầu nhiệm, nước Mỹ đã vươn mình ra từ cuộc nội chiến, một loại chiến tranh tàn khốc nhất cho đời sống các dân tộc, và từ đó trở thành một cường quốc trên thế giới. (PQT)

-----------------------------------------------------------------------------------------

source

Viet Tribune Online

Và Chúa Khóc



Đức Hà
OneViet.com

OKLAHOMA CITY – Không như tượng Chúa Giê-Su thường thấy ở những nơi khác, pho tượng đấng cứu rỗi cao cả đặt tại góc Harvey và đường số 5th ở Oklahoma City, lại quay mặt vào tường, đầu gục xuống, tay trái nắm chặt đè lên tim, tay phải bụm mặt. Chúa khóc. Người ta có cảm tưởng như toàn thân Ngài run rẩy với tiếng nấc nghẹn. Hãi sợ và kinh hoàng cho sự ác độc dã man đến cùng cực của loài người. Cạnh đó, những hàng cột đá đen sừng sững, lạnh tanh, vô cảm. Ngài không dám ngoảnh lại vì phía sau, ngay phía bên kia đường là hệ quả hãi hùng của một hành vi thù hận, là mồ chôn tập thể của 168 nhân mạng vô tội ngày Thứ Tư 19 tháng Tư, 1995. Bệ đá phía dưới hai bàn chân đất của Chúa có khắc hàng chữ “And Jesus Wept.”
Thấm thoát đã 14 năm.

Tưởng Niệm

Nếu bên kia đường Chúa khóc than thì bên này là một sự lặng yên đến rợn người. Hai bức tường vĩ đại, được thiết kế giống như vách ở hai đầu tòa nhà Alfred P. Murrah Federal Building nay không còn nữa, chấn ngang đoạn đường số 5th giữa Harvey và

Robinson. Trên cao nổi bật hàng chữ vừa nhắc nhở vừa an ủi “Chúng ta đến đây để tưởng nhớ những người đã bị bức hại, người sống còn và người đã đổi thay vĩnh viễn. Cầu mong cho tất cả những người khi rời khỏi nơi này thấu hiểu hậu quả của bạo tàn. Cầu mong đài tưởng niệm này mang lại sự an ủi cùng nghị lực, bình an, hy vọng và niềm thanh thản.” Chỉ trong ba phút oan nghiệt từ 9:01 đến 9:03 sáng ngày 19, tòa nhà chín tầng mang tên vị thẩm phán được xem là gương mẫu và lỗi lạc của hệ thống tư pháp Mỹ bị phạt ngang mất 1/3 mặt tiền. Bỗng dưng trong giây phút ngắn ngủi, nơi đây trở thành chỗ an nghỉ vĩnh cửu của 168 nhân mạng trong đó có 19 trẻ em, không kể ba thai nhi còn trong bụng mẹ và một cái giò có thể là của nạn nhân số 169 không xác minh được. Thêm vào đó là 853 người bị thương tích từ nhẹ đến nặng, thoát chết trong kẽ tóc. Theo lý luận của người đặt bom, từng là quân nhân đã tuyên thệ bảo vệ tổ quốc Hoa Kỳ, thì “Khi chính quyền sợ nhân dân thì chúng ta có tự do. Còn khi người dân sợ nhà nước sẽ nẩy sinh ra độc tài chuyên chế,” vì thế cho nổ một tòa nhà liên bang là lời cảnh báo phản ứng lại chính quyền độc đoán, đặc biệt chú trọng đến cách thức cơ quan an ninh giải quyết vụ Waco, vụ Ruby Ridge trước đó. Căm thù chế độ tức hận thù FBI, US Marshals, DEA, ATF … và tòa nhà ở Oklahoma lại có đầy đủ các yếu tố thuận lợi để cho nổ, nơi đặt nhiều cơ quan công lực liên bang, lại vừa giết hại được tối đa do toàn bằng kiếng, lại có không gian rộng rãi chung quanh để sau đó tiện cho truyền thông quay phim chụp hình. Thế là 6,200 pounds phân bón hóa học được chế biến thành chất nổ (tương đương 5,000 pounds TNT) trị giá không tới 5 ngàn đã gây thiệt hại cho ít nhứt 652 triệu đô-la và hệ lụy cho biết bao nhiêu người.

Khoảng trống do vụ phá hoại gây ra giờ đây là khu tưởng niệm trang trọng đầy ý nghĩa. Bức tường thời gian - Gates Of Time, 9:01 phía Đông và 9:03 phía Tây được ngăn cách bởi một hồ nước trong vắt. Tất cả như chìm đắm trong một không gian thoáng mát tĩnh mịch. Tiếng nước róc rách chảy nhẹ nhàng ở bốn cạnh hồ như muốn cuốn đi tiếng rên xiết đau thương oan ức của người quá vãng và xoa dịu lòng căm phẫn của người sống. Những đợt gió nhẹ luồn xuyên qua rừng thông xanh xào xạc phản chiếu trên mặt hồ phẳng lặng yên ắng. Trên bãi cỏ nhung mịn màng dốc thoai thoải là 168 chiếc ghế đá với tựa lưng bằng đồng đặt trên bục thủy tinh trong suốt, tượng trưng cho chiếc ghế trống tại bàn ăn gia đình các nạn nhân. Mỗi chiếc ghế đều có ghi khắc tên của một oan hồn mà người vào xem có cảm giác như vẫn còn ẩn khuất đâu đó chờ đêm đến lại hiện về. Vào ban ngày, những chiếc ghế tạo thành ảo tưởng như nổi bồng bềnh trên thảm cỏ và khi màn đêm buông xuống, ánh sáng từ đáy bục thủy tinh chiếu lên càng làm cho cảnh vật thêm huyền ảo lung linh. Không phải bạo lực có thể hủy hoại tất cả bởi vì đối diện với chín hàng ghế là The Survivor Tree cây cổ thụ chứng nhân của vụ nổ bom. Cho dù vạn vật đổi thay, cây vẫn tồn tại, trơ gan cùng tuế nguyệt. Cây vẫn đứng nơi đây từ hơn 90 năm. Cạnh gốc cây người ta đọc được hàng chữ: “The spirit of this city and this nation will not be defeated; our deeply rooted faith sustains us.”
Không tính vụ tấn công ngày 11 tháng Chín, 2001, thì cuộc khủng bố của nội thù tại trung tâm thành phố Oklahoma City tháng Tư, 1995 được xem vụ sát hại kinh hoàng nhứt lịch sử Hoa Kỳ.

Chuẩn Bị

Hai kẻ chủ mưu chính đã chuẩn bị hành động từ 1988 khi cùng theo học căn bản quân sự tại trung tâm huấn luyện Fort Benning của Bộ Binh Hoa Kỳ. Họ cùng có tư tưởng chống chính quyền, chống lại việc kiểm soát vũ khí, và bất bình về việc cơ quan an ninh sử dụng võ lực để giải quyết các vụ chống đối của giáo phái Davidian ở Waco, Texas năm 1993 và của một thành viên thân nhóm neo-Nazi Aryan Nations ở Ruby Ridge, Idaho năm 1995. Lúc đầu hai người chỉ định phá nổ một tòa nhà liên bang, nhưng sau đó đổi ý và phối hợp hai mục tiêu cùng lúc, tức vừa nổ bom một trụ sở cơ quan liên bang vừa giết hại được càng nhiều nhân viên chính quyền càng tốt. Theo lời khai báo sau này, người ta được biết thủ phạm cho rằng các cá nhân có thể vô tội, nhưng lại có tội vì phục vụ cho một thể chế xấu xa.
Và không may cho Oklahoma City, tòa nhà Alfred P. Murrah được chọn. Đúng 9 giờ 2 phút sáng ngày 14, một chiếc truck Ryder màu vàng chứa 6,200 pounds chất nổ gây thành chấn động 3.0 trên thang đo Richter, đã làm thay đổi hoàn toàn nước Mỹ. Không đầy 90 phút sau, thủ phạm bị chận bắt vì điều khiển một chiếc xe thiếu bảng số và mang súng bất hợp pháp. Đó cũng là phút tự do cuối cùng của một ác quỷ, người làm Chúa phải quay lưng và khóc từ 14 năm nay và mãi mãi.
Tên họ: Timothy McVeigh tử hình ngày 11 tháng Sáu, 2000, tuổi đời 32.

Vào Chủ Nhật 19 tháng Tư năm nay, Hoa Kỳ và thành phố Oklahoma City sẽ tưởng niệm năm thứ 14 ngày nổ bom. Buổi lễ bao gồm cầu nguyện do nhiều tôn giáo chủ trì, đọc trích đoạn kinh cầu siêu, nhạc đạo với Jani Smith và 168 phút im lặng tưởng nhớ những người khuất bóng Xem thêm chi tiết tại đây
source
Onviet